Các xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong 30 năm qua chúng ta đã chứng kiến một sự gia tăng đáng kể của cả dòng FDI và lượng FDI lũy kế trong nền kinh tế thế giới. Dòng FDI ra trung bình hàng năm đã tăng từ 25 tỷ USD năm 1975 lên đến mức kỷ lục 1,2 nghìn tỷ USD vào năm 2000, trước khi giảm xuống mức được ước tính là 620 tỷ USD trong năm 2004. Trong suốt giai đoạn này, dòng FDI đã tăng nhanh hơn mức tăng trưởng của thương mại thế giới và sản lượng thế giới. Ví dụ, từ năm 1992 tới năm 2004, tổng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ tất cả các quốc gia tăng lên khoảng 260% trong khi giá trị thương mại thế giới tăng lên khoảng 100% và tổng sản lượng thế giới tăng lên 32%. Hệ quả của sự gia tăng mạnh mẽ dòng FDI là lượng FDI lũy kế trên phạm vi toàn cầu tính đến năm 2003 đã vượt quá 8,1 tỷ USD. Có ít nhất là 61.000 công ty mẹ và 900.000 các công ty con ở các thị trường nước ngoài, sử dụng khoảng 54 triệu lao động nước ngoài và tạo ra tổng giá trị chiếm khoảng 1/10 GDP toàn cầu. Các công ty con nước ngoài của các công ty đa quốc gia có doanh số bán hàng toàn cầu ước tính vào khoảng 17,6 nghìn tỷ USD, gấp gần 2 lần giá trị xuất khẩu toàn cầu ở mức 9,2 nghìn tỷ USD.

FDI đã tăng trưởng nhanh hơn thương mại và sản lượng thế giới do một số nguyên nhân. Trước hết, mặc dù các rào cản thương mại nói chung đã giảm bớt trong vòng 30 năm qua, tuy nhiên các doanh nghiệp kinh doanh vẫn phải lo ngại những áp lực của chủ nghĩa bảo hộ. Các nhà quản lý cấp cao coi FDI như một cách để tránh các rào cản thương mại trong tương lai. Đồng thời, phần lớn sự gia tăng gần đây của FDI được thúc đẩy bởi những thay đổi về mặt kinh tế và chính trị đang xảy ra ở nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới. Sự chuyển hướng chung sang các thể chế chính trị dân chủ và các nền kinh tế thị trường tự do (mà chúng ta đã thảo luận trong chương 2) đã khuyến khích sự gia tăng của FDI. Trên khắp các nước Châu Á, Đông Âu và Châu Mỹ Latinh, tăng trưởng kinh tế, việc dỡ bỏ sự điều tiết của chính phủ về kinh tế, các chương trình tư nhân hóa đã mở rộng cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài; đồng thời việc xóa bỏ nhiều hạn chế đối với hoạt động FDI đã làm cho các quốc gia này trở nên hấp dẫn hơn đối với các công ty đa quốc gia nước ngoài. Theo Liên Hợp Quốc, trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2003, khoảng 94% trong số 1.885 thay đổi về những quy định điều chỉnh đầu tư trực tiếp nước ngoài là theo hướng tạo thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mong muốn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho FDI của các chính phủ cũng được phản ánh qua sự gia tăng đáng kinh ngạc số lượng các hiệp định đầu tư song phương được thiết kế nhằm khuyến khích và bảo hộ hoạt động đầu tư giữa hai nước. Đến năm 2003, có tới 2,265 các hiệp định kiểu này được ký kết liên quan tới hơn 160 quốc gia, và gấp 12 lần so với con số 181 hiệp định đã có tính đến năm 1980.

Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới cũng có tác động tích cực đến khối lượng FDI. Các doanh nghiệp như Cemex hiện nay coi toàn bộ thị trường thế giới như thị trường của mình, và các doanh nghiệp này đang tiến hành FDI với mong muốn tạo được sự hiện diện đáng kể tại nhiều khu vực trên thế giới. Vì một số lý do mà chúng ta sẽ phân tích trong phần sau của cuốn sách này, nhiều doanh nghiệp hiện nay tin rằng việc có các cơ sở sản xuất gần các khách hàng chủ yếu của mình là điều quan trọng. Và điều này cũng tạo ra áp lực làm gia tăng FDI.

Sụt giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài: Giai đoạn 2001-2004

Trái ngược với xu hướng dài hạn, trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004, giá trị FDI sụt giảm gần 50%, từ 1,2 nghìn tỷ USD xuống chỉ còn khoảng 620 tỷ. Sự giảm sút rõ rệt nhất nằm trong mức độ của hoạt động mua lại và sáp nhập qua biên giới, đây là hình thức chủ yếu của các dòng FDI trên phạm vi toàn cầu kể từ những năm 1980. Trong năm 2000, năm đỉnh cao, có đến 7.900 các hợp đồng mua lại và sáp nhập qua biên giới với tổng giá trị lên tới 1,1 nghìn tỷ USD. Tổng số lượng và giá trị của các vụ giao dịch giảm dần qua từng năm  trong ba năm tiếp theo. Trong năm 2003, chỉ có 4.200 vụ giao dịch mua lại và sáp nhập qua biên giới với giá trị 241 tỷ USD được thực hiện. Sự sụt giảm chung về cả số lượng và giá trị của FDI ở các nước phát triển là rõ rệt nhất.

Sự giảm sút các dòng FDI trong giai đoạn 2001-2004 có thể chỉ là tạm thời. Sự sụt giảm này dường như phản ánh ba diễn biến: (1) sự giảm sút chung trong tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới; (2) sự không chắc chắn ngày càng gia tăng trong mối quan hệ địa chính trị giữa các quốc gia sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ; và (3) sự đổ vỡ của bong bóng thị trường chứng khoán ở Hoa Kỳ đã làm hạn chế khả năng của nhiều công ty trong việc huy động thêm vốn để tài trợ cho các hoạt động FDI tham vọng, đặc biệt là các vụ mua lại và sáp nhập. Sự gia tăng FDI trong giai đoạn 1999-2000 là kết quả của bong bóng thị trường  chứng khoán cuối những năm 1990, và khi nhìn lại thì thì sự gia tăng này chỉ đại diện cho một mức đỉnh điểm không bền vững trong ngắn hạn của hoạt động FDI. Như đã lưu ý, phần lớn hoạt động FDI trong giai đoạn này được tiến hành dưới hình thức mua lại và sáp nhập, và nhiều trong số đó được tài trợ thông qua việc phát hành các cổ phiếu mới trên các thị trường chứng khoán thế giới. Với tình trạng đình trệ của các thị trường chứng khoán toàn cầu, cách thức tiến hành hoạt động FDI như trên dường như sẽ không sớm lặp lại.

Tuy nhiên, các cuộc điều tra do Liên Hợp Quốc và các tổ chức khác tiến hành đã cho thấy rằng phần lớn các tập đoàn đều lên kế hoạch tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong vài năm sắp tới. Các động cơ nền tảng cho xu hướng FDI trong dài hạn vẫn tiếp tục tồn tại. Các công ty đa quốc gia đã và đang tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài để thâm nhập các thị trường quốc gia hoặc để thiết lập các cơ sở sản xuất chi phí thấp nhằm phục vụ các thị trường trong khu vực hoặc thị trường toàn cầu, và những động cơ này chắc chắn sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Trong số các quốc gia dường như sẽ thu được lợi ích từ sự  gia tăng dòng FDI vào trong thập kỷ tới, Trung Quốc có thể có mức độ gia tăng cao nhất. Trung Quốc đã là nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất trong số các quốc gia phát triển trong gần một thập kỷ nay, và xu hướng này vẫn tiếp diễn trong năm 2004 khi quốc gia này nhận được mức FDI kỷ lục lên tới 62 tỷ USD từ các công ty đa quốc gia.