Cách thiết kế chương trình nghiên cứu chính thức

  • Mẫu nghiên cứu

Cơ cấu mẫu trong nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu được thực hiện với toàn bộ doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tại Đồng Băng Sông Cửu Long, Doanh nghiệp tham gia vào nghiên cứu là các doanh nghiệp đang hoạt động trong vùng, từ doanh nghiệp sản xuất đến doanh nghiệp dịch vụ, từ doanh nghiệp nhỏ đến doanh nghiệp lớn. Khung mẫu sẽ là lớn hơn 200 quan sát. Nghiên cứu lấy mẫu dựa trên 4 thuộc tính kiểm soát đó là loại hình doanh nghiệp, kích cỡ doanh nghiệp, ngành nghề và vị trí địa lý nơi của doanh nghiệp hoạt động.

  • Cỡ mẫu

Nghiên cứu lấy mẫu nhằm sử dụng phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), nên đòi hỏi cỡ mẫu lớn để đảm bảo ước lượng độ tin cậy cần thiết của mô hình (Raykov và Widaman, 1995, trích từ Nguyen, 2002). Tuy vậy, thế nào là một mẫu lớn vẫn chưa được các nhà nghiên cứu khẳng định một cách chính thức. Theo Hair và đtg (2010), cỡ mẫu cần phải được xem xét trong sự tương quan với số lượng các thông số ước lượng và nếu sử dụng phương pháp ước lượng ML (maximum likelihood) thì kích thước mẫu tối thiểu phải từ 100 đến 150, và cũng theo Kline (2005) đề nghị kích thước mẫu cho phương pháp ước lượng được sử dụng trong SEM có ba loại mẫu nhỏ ≤ 100, mẫu trung bình 100 – 200, và mẫu lớn ≥ 200 (Kline, 2005).

Cũng có nhà nghiên cứu cho rằng kích thước mẫu tới hạn phải là 2000 ( Holter, 1983, trích từ Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008). Bên cạnh đó, theo Bolen (1989), tỷ lệ cần thiết để thiết kế cỡ mẫu là: tối thiểu phải có năm quan sát trên mỗi thông số ước lượng (tỷ lệ 5:1).

Như vậy, nếu dựa trên quan điểm của Hair và đtg, cỡ mẫu tối thiểu phải lớn hơn 150. Theo Anderson và Gerbing (1988), trong ứng dụng nghiên cứu thực tế, cỡ mẫu từ 150 hoặc lớn hơn thường là cần thiết để có được ước lượng các thông số với sai số chuẩn đủ nhỏ. Như vậy, cỡ mẫu lớn hơn 150 là có thể chấp nhận được. Do đó, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được cho nghiên cứu này là 150. Tuy nhiên, cỡ mẫu càng lớn hơn mức tối thiểu yêu cầu thì độ tin cậy của nghiên cứu càng cao (giảm những sai lệch do lấy mẫu). Từ những cơ sở lập luận trên đây, nghiên cứu đã phát ra 550 phiếu điều tra, sau đó thu về và kiểm tra số quan sát đạt yêu cầu là 392 quan sát, như vậy mẫu nghiên cứu dùng để kiểm định mô hình chính thức là 392 quan sát.

  • Phương pháp điều tra

Theo lý thuyết về phương pháp nghiên cứu thì có nhiều phương pháp phỏng vấn điều tra, có thể phỏng vấn bằng điện thoại, gởi thư, qua email, quan sát … Trong những phương pháp này thì phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi là tốn chi phí nhiều nhất nhưng tỷ lệ trả lời mang lại là cao nhất và phỏng vấn sâu hơn.

Do vậy nghiên cứu chọn phương pháp lấy mẫu theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Theo phương pháp này người phỏng vấn có thê giải thích rõ hơn những vấn đề mà đáp viên chưa hiểu rõ. Tuy là tốn kém về chi phí nhưng tỷ lệ trả lời cao sẽ đáp ứng được việc xử lý số liệu của vấn đề cần nghiên cứu.

Đối tượng điều tra

Vi nghiên cứu là nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nên đối tượng phỏng vấn là vấn đề rất quan trọng, người được phỏng vấn phải hiểu rõ các vấn đề về các hoạt động của doanh nghiệp và cả về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy nghiên cứu đang tìm hiểu mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nên đối tượng được phỏng vấn phải hiểu rõ cả về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và cả hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, để đảm bảo các thông tin được thu thập được chính xác, nghiên cứu lựa chọn các đối tượng phỏng vấn sau đây để phỏng vấn: Giám đốc doanh nghiệp, phó Giám đốc doanh nghiệp, người phụ trách trách nhiệm xã hội, trưởng phòng Nhân sự, trưởng phòng Bán hàng, trưởng phòng Marketing.

  • Đánh giá độ tin cậy của thang đo cho nghiên cứu chính thức:

Dưới ngay sau đây sẽ là kết quả đánh giá độ tin vậy của thang đo của từng khái niệm trong mô hình nghiên cứu.

Đánh giá độ tin cậy của thang đo môi trường được thể hiện cụ thể trong bảng sau:

Nhìn vào bảng 4.1 có thể thấy được, thang đo môi trường bao gồm bốn biến quan sát. Phân tích độ tin cậy cho thấy hệ số α = 0.913 > 0.6 đảm bảo độ tin cậy cần thiết cho thang đo môi trường. Tóm lại, thang đo môi trường đã đạt được độ tin cậy cần thiết.

Bảng 4.2 thể hiện việc kiểm định độ tin cậy của thang đo Nhân viên, Thang đo nhân viên được cấu thành bởi bốn biến quan sát, kết quả kiểm định cho thấy hệ số α = 0.867, và các hệ số tương quan biến tổng của ba biến quan sát đều lớn hơn 0.3.

Như vậy, thang đo Nhân viên có hệ số α = 0.867 , trong đo thang đo Nhân viên chỉ có bốn biến quan sát CSRNV1, CSRNV2, CSRNV3 tương ứng với tương quan biến tổng đạt từ 0.736 đến 0.766 đều lớn > 0.3. Tóm lại, thang đo Nhân viên đạt được độ tin cậy cần thiết.

Bảng 4.3 trình bày các hệ số khi kiểm định độ tin cậy của thang đo Khách hàng. Thang đo Khách hàng được cấu thành bởi bốn biến quan sát CSRKH1,  CSRKH3 và CSRKH5 tương ứng với hệ số tương quan biến tổng đạt từ 0.668 đến 0.762 đều lớn hơn 0.3 và α = 0.847. Tóm lại thang đo Khách hàng đạt độ tin cậy cần thiết.

Bảng 4.4 thể hiện việc kiểm định độ tin cậy của thang đo Nhà cung ứng với ba biến quan sat cụ thể đó là CSRNCC1, CSRNCC2 và CSRNCC3. Hệ số tương quan biến tổng của ba biến này cụ thể là 0.798, 0.785 và 0.847 đều lớn hơn 0.3. Đồng thời hệ số α = 0.904, do đó, thang đo Nhà cung ứng đạt được độ tin cậy cần thiết.