Cách thiết lập hành lang lãi suất

Các NHTW nêu trên đã vận hành hệ thống hành  lang  lãi  suất  theo một trong hai mô hình và đã thành công trong việc hạn chế biến động của lãi suất LNH,  cho  phép  NHTW cung cấp thanh khoản cho hệ thống với quy mô  lớn. Điển hình  trƣớc  và  sau  khủng hoảng tài chính (2008) là mô hình hành lang của các nƣớc Châu Âu và FED:

  • Đối với các nƣớc Châu Âu (ECB, Anh…) từ lâu đã duy trì hành lang lãi suất trần-sàn: Trong đó, lãi suất của công cụ cho vay qua đêm (SLF) đóng vai  trò là lãi suất  trần và lãi suất do NHTW trả cho  các  khoản tiền gửi  dƣ thừa qua đêm  (SDF)  đóng vai trò là lãi suất sàn bởi theo lý thuyết, không có ngân hàng nào sẵn sàng đi vay trên thị trƣờng với mức cao hơn/thấp hơn lãi suất của cặp công cụ này. Vì vậy,  lãi  suất  SLF và SDF là một phần không thiếu trong cơ chế điều hành CSTT theo mục tiêu lãi suất.

Tuy nhiên, khi cuộc khủng hoảng 2008-09 xảy ra,  lãi  suất  qua  đêm  đã  giảm xuống tiệm cận mức 0, nhiều NHTW các nƣớc Châu Âu đã tập trung nhiều hơn vào  lãi suất SDF chứ không phải mức trần  SLF.  Đến nay,  hành  lang lãi  suất  truyền thống này tiếp tục đƣợc duy trì tại ECB, Anh,  Nhật  Bản,  Canada…,  trong  đó  ECB  đã  chuyển sang sử dụng lãi suất sàn SDF với vai trò là LSMT hay LSCS.

  • Đối với FED: Trái ngƣợc với các nƣớc Châu Âu, cửa sổ  chiết  khấu (Discount window) rất ít đƣợc tích hợp  vào  khung  CSTT,  FED  chủ  yếu  sử  dụng  OMOs (1920) làm công cụ chính  trong  điều hành,  giúp FED thành công trong việc  giữ lãi suất qua đêm gần với  mức  LSMT  ngay  cả  khi  TTLNH  biến  động  mạnh.  Sự  khác biệt này một phần là do FED sử dụng hành lang không  có  trần  lãi  suất  (trƣớc  năm 2003), theo đó lãi suất chiết khấu – lãi suất tín dụng chính (Primary Credit) đƣợc giữ dƣới mức mục tiêu nhằm cung cấp các khoản vay trợ  cấp cho  các tổ chức  có áp lực  thanh khoản tạm thời; từ năm  2003, lãi suất chiết khấu  đã đƣợc đặt trên mức  lãi suất  FFR nhƣng cũng không đóng vai trò là lãi suất trần (lãi  suất  thị trƣờng thƣờng cao hơn lãi suất chiết khấu do lo ngại ảnh  hƣởng  đến uy  tín nên các  ngân  hàng  không  muốn  vay). FED không duy trì lãi suất công cụ SDF với vai trò nhƣ lãi suất sàn hành

Tuy nhiên, từ năm 2008, FED chính thức áp  dụng  một  hệ  thống  hành  lang  có mức sàn, theo đó, FED  thực  hiện trả lãi suất cho các khoản dự trữ vƣợt  mà các ngân  hàng gửi tại FED để giúp hỗ trợ sàn cho lãi suất FFR  nhằm  giữ cho  lãi suất LNH biến động trong phạm vi mục tiêu. Ngoài ra, gần đây một  số  NHTW  đã thực thi  CSTT thắt chặt nhƣng không làm giảm số dƣ dự trữ của hệ thống bằng cách nâng mức sàn lãi suất tiền gửi qua đêm (thấp hơn LSCS), kéo theo  sự dịch chuyển của các mức  lãi suất khác trên thị trƣờng và bằng chứng cho thấy lãi suất trả cho dự trữ dƣ thừa (excess reserves) hoặc lãi suất công cụ SDF có thể đƣợc NHTW sử dụng để thắt  chặt  CSTT và giảm  sự phụ thuộc vào các hoạt động hỗ trợ nhằm hút thanh khoản (nhƣ trƣờng hợp của FED).

Ngoài ra, khi áp dụng hai mô hình hành lang lãi  suất  phổ  biến  nêu  trên,  các NHTW đều phải tính toán đến chi phí và lợi  ích.  Hơn  nữa, trong môi trƣờng lãi suất  ngắn hạn đang có xu hƣớng tăng lên ở nhiều nền kinh tế nhƣ hiện nay do ảnh hƣởng từ việc FED tăng LSMT để thực hiện bình  thƣờng  hóa CSTT từ cuối  năm  2015, có thể  gây bất lợi cho các NHTW và hệ thống tài  chính  về mặt  chi  phí.  Vì  vậy,  để  khuyến khích các NHTM quản lý thanh khoản  bằng  cách  tham  gia giao  dịch  trên LNH  nhiều hơn khi áp dụng hệ thống sàn lãi  suất54,  một  số  NHTW  (New Zealand,  Nauy)  đã  áp dụng mô hình – Hệ thống có 2 mức sàn lãi suất.

Tóm lại, kinh nghiệm cho thấy các nƣớc  áp dụng khung khổ CSTT theo  LPMT linh hoạt hay ngầm định đều điều hành CSTT theo  mục  tiêu lãi  suất  (lãi  suất  của công cụ CSTT hoặc lãi suất LNH  ngắn  hạn)  thông  qua  việc  kết  hợp  bơm/hút  thanh  khoản trên OMOs (nghiệp vụ Repo hoặc Repo đảo ngƣợc) và các công cụ dự phòng (SDF và SLF) nhằm tạo điều kiện cho các NHTM cho vay hoặc gửi  tiền với  NHTW, qua đó tác động vào lãi suất thị  trƣờng theo  định hƣớng mục tiêu và tạo điều kiện để NHTM quản  lý thanh khoản nhằm đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng của CSTT.

Từ những bài học trong quá trình chuyển đổi trên cho thấy, trƣớc mắt  khi  chƣa đáp ứng đƣợc đầy đủ các điều kiện nhƣ các nƣớc nêu trên, Việt Nam cần từng bƣớc hoàn thiện hệ thống mục tiêu CSTT  theo hƣớng tang cƣờng sử dụng mục  tiêu lãi suất bên cạnh các mục tiêu tiền tệ, tín dụng; đƣa vào thử  nghiệm  các  công cụ mới  (SDF hoặc trả lãi dự trữ vƣợt) để tiến tới bổ  sung  và hoàn thiện bộ công cụ CSTT, đồng thời nên xác định LSMT là lãi suất LNH ngắn hạn (O/N hoặc 7 ngày) nhƣ các quốc gia đi trƣớc nhằm đáp ứng đƣợc các  điều kiện cần thiết chuyển sang điều hành theo mục tiêu  lãi suất khi thị trƣờng và nền kinh tế ngày càng phát triển trong tƣơng lai.