Cách tiếp cận trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Các học giả marketing đã bắt đầu xem xét các vấn đề CSR từ những năm 1960 và họ chỉ nhấn mạnh đến các nghĩa vụ xã hội liên quan đến các chức năng marketing mà không nghĩ đến các khía cạnh khác của hoạt động CSR. Các nghiên cứu liên quan đến CSR trong lĩnh vực marketing tập trung vào các khía cạnh marketing, như tài trợ xã hội (Simmons và Becker-Olsen 2006), marketing môi trường (ví dụ Crouch 2006, Handelman và Arnold, 1999; Menon và Menon 1997; Zeithaml và Zeithaml 1984), giao tiếp với người tiêu dùng về các vấn đề CSR (Caruana and Crane 2008), phản hồi của khách hàng đối với hành vi CSR của tổ chức (Brown và Dacin 1997; Ellen và cộng sự, 2006; Handelman và Arnold, 1999; Sen and Bhattacharya, 2001) và danh tiếng của công ty (ví dụ Berens và cộng sự, 2005, Lichtenstein và cộng sự, 2004, Wagner và cộng sự, 2009). Tuy nhiên, suy nghĩ về CSR từ khía cạnh marketing chỉ nhấn mạnh đến mối quan hệ với  khách hàng

Từ thập niên 1930 khái niệm CSR ra đời. Sau đó, nó được khái quát thành “trách nhiệm xã hội của những nhà kinh doanh là những nghĩa vụ phù hợp với những mục tiêu và giá trị của xã hội mà nhà kinh doanh phải thực hiện khi theo đuổi chính sách và đưa ra quyết định cho hoạt động kinh doanh của mình ” (Browen, 1953, trang 6). Khái niệm này đề cao việc doanh nghiệp không tác động tiêu cực đến người khác.

Từ đó đến nay, tùy vào trường hợp, quan điểm và điều kiện khác nhau thì mỗi tổ chức, doanh nghiệp, chính phủ lại có những khái niệm khác nhau về CSR (Dahlsrud, 2008; Chang và Yeh, 2016). Khái niệm về CSR là chủ đề của cuộc tranh luận đáng kể giữa nhà nghiên cứu tùy vào cách xác định các khái niệm: trách nhiệm, xã hội và doanh nghiệp. Ví dụ như: doanh nghiệp  chịu trách nhiệm với ai, có trách nhiệm về điều gì, mức độ trách nhiệm xã hội mà doanh nghiệp phải thực hiện (Lenoizelee, 2009).

Carroll (1999) “CSR bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”. Với các thành phần theo mô hình kim tự tháp của CSR: trách  nhiệm kinh tế, pháp luật, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện. Ông đề nghị phải đảm bảo lợi  ích của  khách hàng, người lao động, nhà cung ứng, nhà đầu tư, cộng đồng…trên  cả bốn khía cạnh này. Định nghĩa này được xem là định nghĩa bao quát nhất và được chấp nhận rộng rãi nhất (Mohr và cộng sự, 2001; Mandhachitara và Poolthong, 2011).

Brown và Dacin (1997) định nghĩa CSR là tình trạng và hoạt động của tổ chức liên quan đến nhận thức nghĩa vụ xã hội của tổ chức đó. Ông phân biệt trách nhiệm kinh tế và phi kinh tế và CSR được xem như thang đo một thành phần. Cách tiếp cận này không thể được dùng để phân biệt bất kỳ thành phần của CSR nào vì nó coi CSR như một nhận thức tổng thể trong tâm trí của khách hàng.

Hopkins (2007) vận dụng lý thuyết các bên liên quan cho rằng “CSR tạo ra mức sống ngày càng  cao cùng lúc với bảo tồn lợi ích cho các bên liên quan. Nó  ảnh hưởng đến các ứng xử có trách nhiệm với các bên hữu quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp”. Theo định nghĩa này doanh nghiệp cần phải làm hài lòng các bên liên quan vì đây là mục tiêu chính của CSR. Cùng quan điểm cho rằng CSR là một khái niệm đa chiều với nhiều bên liên quan, Henri và Ane (2012) cho rằng trách nhiệm xã hội bao gồm các  yếu  tố  như  trách  nhiệm  cộng  đồng,  môi trường, nhân quyền, và cách ứng xử với nhân viên.

Định nghĩa CSR của Hội đồng kinh tế thế giới về phát triển bền  vững (2000): “CSR là cam kết kinh doanh góp phần phát triển kinh tế bền vững, là hành động với nhân viên, gia đình, cộng đồng địa phương và xã hội nói chung để nâng cao chất lượng của cuộc sống, theo những cách tốt cho cả kinh doanh và tốt cho phát triển ”.

Aguinis (2011, trang 855) cho rằng thực tiễn CSR là “các hành động và chính sách tổ chức cụ thể theo ngữ cảnh có tính đến kỳ vọng của các bên liên quan và lý thuyết bộ ba cốt lõi bền vững về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường“. CSR được chia thành ba nhân tố, đó là phát triển kinh tế, xã hội và  môi trường. Hoạt  động kinh doanh của doanh nghiệp và văn hoá doanh nghiệp phải bền vững trong tất cả ba khía cạnh này. Định nghĩa này được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận (Rupp, 2011; Rupp và công sự, 2010)

Cũng theo dòng lý thuyết gắn CSR với phát triển bền vững, Du và cộng sự (2011, trang 1) cho rằng “CSR là cam kết của một công ty để tối đa hoá lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường lâu dài thông qua các hoạt động kinh doanh, các chính sách và các nguồn lực”. Khái niệm của Du vào cộng sự (2011) dựa mô hình phát triển bền vững để xây dựng các yếu tố cấu thành (Alvarado-Herrera và cộng sự, 2017) cho nên khá phù hợp với nghiên cứu của tác giả.

Từ lược khảo lý thuyết trên cho thấy có rất nhiều khái niệm CSR khác nhau tùy thuộc vào mục đích và bối cảnh nghiên cứu khác nhau với ba cách tiếp cận chính: mô hình kim tự tháp của Carroll (1979; 1991); các bên liên quan, mô hình phát triển bền vững. Tuy nhiên, nó có điểm chung cơ bản là các khái niệm này đều nhấn mạnh bên cạnh những lợi ích của doanh nghiệp phù hợp với luật pháp thì các doanh nghiệp phải gắn liền các hoạt động trong sự phát triển chung của cộng đồng.