Cân bằng và điều kiện thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp

Để phân tích tình hình cân bằng thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp, xin trở lại với thí dụ 2 đã đưa ra ở phần trên. Giả sử mỗi đơn vị giá cả sản phẩm tương đương với một giờ lao động đã chi phí cho sản xuất sản phẩm gạo và than, khi đó ta sẽ tính được giá cả của một đơn vị sản phẩm gạo và than ở 2 quốc gia như sau:

Trước khi có thương mại, tỷ giá trao đổi giữa gạo và than ở A là 1/0,25, và tại B là 1,25/0,5. Đó là những tỷ giá cân bằng giữa sản phẩm gạo với sản phẩm than tại mỗi quốc gia.

Khi có thương mại quốc tế, như trên đã chỉ ra, theo nguyên lý của lý thuyết lợi thế tương đối; quốc gia B sẽ chuyên môn hoá sản xuất gạo để xuất khẩu, và sẽ nhập khẩu than từ A. Do xuất khẩu gạo, cầu về gạo tại B sẽ tăng lên, vì vậy, giá gạo tại B cũng sẽ tăng lên so với trước khi có thương mại quốc tế. Ngược lại, đối với sản phẩm than, giá sẽ hạ xuống, do nhập được nguồn than rẻ từ A. Kết cục là, tỷ giá gạo/than tại B sẽ tăng dần đến một mức P nào đó sẽ dừng lại (P>1,25/0,5).

Tại Quốc gia A, do xuất khẩu than và nhập gạo, nên động thái giá sẽ ngược lại động thái ở B. Tức là giá than sẽ tăng, giá gạo sẽ giảm. Vì vậy, tỷ giá gạo/than tại A sẽ giảm dần đến một mức P nào đó (P<1/0,25).

Như vậy, động thái biến động tỷ giá gạo/than ở hai quốc gia là ngược chiều nhau, nếu không bị những nhân tố khác chi phối, sẽ hình thành được tỷ giá gạo/than cân bằng giữa hai quốc gia tại điểm P = 3,25. Đó là tỷ giá đảm bảo cân bằng về lợi ích giữa hai quốc gia trong hoạt động giao thương (xem trên bảng 10.3).

Xét về mặt số lượng sản phẩm, trạng thái cân bằng thương mại giữa hai quốc gia sẽ đạt được khi cung xuất khẩu than của Quốc gia A đúng bằng cầu nhập khẩu than của Quốc gia B. Ngược lại cung xuất khẩu gạo của B cũng phải bằng cầu nhập khẩu gạo của A.

Do giữa hai Quốc gia có sự khác biệt về cơ cấu các yếu tố đầu vào và hàng loạt những khác biệt nhau khác, nên quan hệ tỷ giá giữa 2 sản phẩm ở hai Quốc gia là khác nhau. Hơn nữa, tỷ giá hối đoái cũng chịu sự tác động của nhiều nhân tố, nên có thể giữa hai Quốc gia có một lúc nào đó đạt được trạng thái cân bằng về lợi ích nhưng lại không đạt được cân bằng về số lượng sản phẩm, hoặc ngược lại. Trên thực tế, sự vận động của hai trạng thái: cân bằng về lượng và cân bằng về lợi ích, thường nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Điều này làm cho luôn luôn có động thái vận động ngược chiều nhau giữa trạng thái cân bằng về lượng và cân bằng về lợi ích. Điểm giao nhau đảm bảo cân bằng cả hai trạng thái chỉ là ngẫu nhiên. Đó là trạng thái lý tưởng mà các hoạt thương mại đều hướng đích đến.

Cần lưu ý là, trong quá trình phân tích hai trạng thái cân bằng thương mại theo số liệu giả định ở thí dụ 2, chúng ta đã bỏ qua chi phí vận tải và các chi phí hoạt động thương mại khác. Điều đó cho phép chúng ta dễ dàng hơn trong nghiên cứu.

Khi ta tính đủ các chi phí hoạt động thương mại, và thực tế là phải như vậy, lẽ tự nhiên là lợi thế thương mại sẽ thay đổi, thường thì chi phí đó làm giảm lợi thế thương mại. Tuy nhiên, không phải chỉ có một quốc gia bị giảm lợi thế do chi phí thương mại, mà tất cả các quốc gia đều phải như vậy. Khi đó, mức lợi thế sẽ cùng bị giảm đi, nhưng rất có thể là mức giảm sẽ khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Quốc gia nào càng giảm được chi phí hoạt động thương mại, sẽ càng có điều kiện hạn chế được mức giảm lợi thế trong hoạt động thương mại quốc tế. Từ đó, có thể rút ra hai kết luận bổ ích sau đây trong nỗ lực không làm giảm lợi thế trong hoạt động thương mại ở Việt Nam:

–   Thứ nhất, trong xu hướng đa phương hoá quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam, sự hướng tới các quan hệ buôn bán với các nước láng giềng, các nước trong khu vực sẽ có ý nghĩa rất quan trọng.

–    Thứ hai, việc đầu tư để phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong nông nghiệp, cũng như trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế sẽ có ý nghĩa làm tăng khả năng cạnh tranh của nông sản xuất khẩu, nhờ các doanh nghiệp giảm được các chi phí hoạt động thương mại.

Điều kiện thương mại quốc tế các sản phẩm nông nghiệp.

Khi phân tích trạng thái cân bằng thương mại quốc tế, chúng ta đã chỉ ra rằng, tình trạng không cân bằng giữa hai trạng thái: không cân bằng về lợi ích và không cân bằng về số lượng sản phẩm luôn xảy ra. Sự vận động của hai trạng thái đó nhằm hướng tới vừa đảm bảo cân bằng lợi ích, vừa đảm bảo cân bằng số lượng sản phẩm trên thị trường mỗi nước. Có thể coi sự cân bằng về số lượng là mục tiêu của thương mại, còn sự cân bằng về lợi ích là phương tiện để đạt tới mục tiêu, nếu xét ở cấp độ vĩ mô. Ngược lại, cân bằng về số lượng là phương tiện, còn cân bằng về lợi ích là mục tiêu, nếu xét ở cấp độ vi mô.

Cũng cần lưu ý rằng, cho dù trạng thái cân bằng lợi ích có thể không đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả hai bên, tức là có thể lợi ích sẽ nghiêng hơn về bên nào đó, tỷ giá trao đổi vẫn phải đảm bảo cho cả hai bên, thậm chí cho cả bên được lợi ít hơn trong thương mại, phải có được lợi thế tương đối để xuất khẩu mặt hàng nào đó. Điều đó đảm bảo để luồng hàng trao đổi luôn là hai chiều, tức là phải có xuất khẩu để nhập khẩu, tất nhiên là phải xét trong dài hạn và trên bình diện chung.

Trong thí dụ 2 đã nêu trên, quan hệ trao đổi được tính ở các tỷ lệ trao đổi khác nhau tính bằng hiện vật. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, việc tính bằng hiện vật là để cho sự nghiên cứu dễ dàng hơn. Trên thực tế đời sống kinh tế, hầu như không còn chuyện hàng đổi hàng, tất cả đều được tiền tệ hoá.

Giả sử mỗi đơn vị chi phí lao động để sản xuất ra than và gạo ở hai quốc gia đều ứng với mỗi đơn vị giá cả thống nhất, thì với tài liệu ở thí dụ 2, khi quốc gia B giành cả 200 giờ lao động để sản xuất gạo, còn A dành cả 200 giờ để sản xuất than, thì giá 1 đơn vị sản phẩm gạo sẽ là 1,25 đơn vị giá cả, và than là 0,25. Nếu 1 gạo của B đổi được 2,5 than của A, thì tỷ giá trao đổi giữa gạo với than giữa 2 quốc gia sẽ là: 1×1,25/2,5×0,25 = 2,00. Như vậy, trị số của tỷ giá trao đổi tính bằng giá trị đã khác so với trị số của nó tình bằng hiện vật. Và trị số tính bằng giá trị phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó có yếu tố rất quan trọng và có thể điều tiết được trong phạm vi nào đó – đó là tỷ giá hối đoái. Sự thay đổi của tỉ giá hối đoái có thể làm cho người xuất khẩu nông sản thu được lãi ít đến lãi nhiều, hoặc ngược lại. Tuy nhiên, vấn đề mà ta đang hướng đến ở đây chưa phải là sự lãi ít hay nhiều, mà là quan hệ giữa giá của hàng xuất khẩu với giá của hàng nhập khẩu. Mối quan hệ này được gọi là điều kiện thương mại xuất nhập khẩu. Đó là tỷ số giữa giá của một nhóm hàng xuất khẩu với giá của một nhóm hàng nhập khẩu.

Điều kiện thương mại xuất nhập khẩu được tính theo công thức:

Khi tính chỉ tiêu điều kiện thương mại xuất nhập khẩu, người ta phải qui giá của nhóm hàng xuất khẩu và nhóm hàng nhập khẩu về cùng một đơn vị đồng nhất, thông qua việc sử dụng tỷ giá hối đoái. Việc phân tích điều kiện thương mại xuất nhập khẩu chủ yếu được phân tích trong biến động thời gian. Thông thường, người ta lấy trị số điều kiện thương mại xuất nhập khẩu của 1 năm nào đó là 100 (ví dụ lấy trị số năm 1990=100), sau đó so sánh trị số của năm phân tích với năm gốc. Trị số của điều kiện thương mại xuất nhập khẩu bị coi là xấu đi nếu nó giảm, ngược lại, được coi là tốt lên. Tuy nhiên, khi chỉ tiêu đó thay đổi, cần phân tích cụ thể hoàn cảnh thì mới có thể đánh giá đúng tình hình xuất nhập khẩu của một quốc gia.

Về phương pháp lựa chọn nhóm hàng xuất khẩu và nhập khẩu, cần chú ý lựa chọn những hàng hoá mang tính đại diện cho mỗi nhóm hàng. Cơ cấu đó phải phản ánh đúng hiện trạng xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia. Về giá cả, thông thường, người ta chọn giá FOB (free on board) đối với hàng xuất khẩu, và giá CIF (cost insurance frieght) đối với nhóm hàng xuất khẩu.

Đối với các nước chậm phát triển, nhóm hàng xuất khẩu thường là nông sản, hơn nữa lại là nông sản sơ chế, còn nhóm hành nhập khẩu thường là những hàng công nghiệp. Nếu trị số của CTT của các nước chậm phát triển năm 1975 là 100% thì suốt thập niên 80 của thế kỷ 20, chỉ số đó liên tục bị giảm, đến cuối những năm 80 chỉ còn đạt 70%. Nguyên nhân của tình trạng đó là do giá nông sản thô liên tục bị giảm, trong khi giá hàng công nghiệp có xu hướng tăng. Điều này làm cho cán cân thương mại của các nước này ngày càng mất cân bằng theo hướng xấu đi. (Theo “kinh tế học cho thế giới thứ ba” của Michael P.Todaro). Để khắc phục tình trạng đó, rõ ràng phải, một mặt là bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu nông sản như truyền thống, cần tăng cường sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp, và mặt khác, phải cải tiến cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng nông sản chế biến, hạn chế xuất khẩu nông sản nguyên liệu.