Căn cứ pháp lý cho việc lựa chọn mục tiêu lãi suất trong điều hành CSTT tại Việt Nam

Kể từ khi Pháp lệnh về ngân hàng ra đời năm 1989 và có hiệu lực thi hành từ tháng 10 năm 1990 đã đánh dấu bƣớc ngoặt đổi mới của hoạt  động ngân hàng, điều hành CSTT và cơ chế điều hành lãi suất đã đƣợc hoạch định và thực hiện theo nguyên tắc thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, từ khi Luật NHNN năm  1997  bắt đầu có hiệu lực, nền kinh tế bắt đầu hội nhập mạnh mẽ nhƣng lại chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997-1998) khiến tăng trƣởng kinh tế giảm tốc, do đó, NHNN gỡ bỏ sàn lãi suất tiền gửi , chỉ quy định trần lãi suất cho vay nhằm kiềm chế lạm phát và phục vụ phát triển kinh tế (từ 1990 – 1995 quy định trần-sàn lãi suất cho vay/tiền gửi để đảm bảo lãi suất thực dƣơng71). Từ tháng 8/2000 – 5/2002, trong điều kiện lãi suất quốc tế có xu hƣớng tăng, gây sức ép tăng lãi suất trong nƣớc nên việc hạn chế trần lãi suất cho vay làm giảm khả năng huy động vốn cả trong và ngoài nƣớc, vì vậy, NHNN  đã bỏ quy  định trần lãi suất cho vay chuyển sang thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, phù hợp với quy định tại Điều 9 và 18 Luật NHNN.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban  chấp  hành  Trung  ƣơng  Đảng khóa IX về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001-2010 và chỉ đạo của Chính phủ, giai  đoạn từ tháng 6/2002 – 1/2008, NHNN đã bỏ  cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, nhƣng vẫn công bố lãi  suất  cơ bản để định hƣớng lãi suất thị trƣờng; các NHTM ấn  định lãi  suất  kinh  doanh  theo  cơ chế  thoả thuận  giữa bên vay và cho vay; NHNN  điều tiết  lãi  suất  thị  trƣờng thông qua  các  công cụ gián  tiếp là lãi suất TCV, lãi suất chiết  khấu  và  các  công cụ khác,  không  can thiệp trực tiếp đối với lãi suất kinh doanh của NHTM. Lãi suất LNH biến động trong hành lang lãi suất  TCV và  lãi  suất  chiết  khấu  đóng  vai  trò  ―trần‖ và ―sàn‖, lãi suất OMOs  đặt  trong biên độ trên để điều tiết lãi suất TTLNH dao động trong phạm vi hành lang lãi suất. Lãi  suất  cho  vay  qua  đêm  áp  dụng  trong  TTĐTLNH  nhƣ  là  lãi  suất  ―phạt‖.  Lãi  suất huy động và cho vay của các NHTM đƣợc tự do hoá, hình thành và  biến động chủ yếu  theo quan hệ cung – cầu vốn, tạo điều kiện cho các  dòng vốn luân chuyển đƣợc  nhanh hơn, các NHTM phát triển các sản phẩm, dịch vụ  ngân  hàng.  Có  thể  nói,  đây  là  giai đoạn đánh dấu bƣớc ngoặt lớn trong việc cải tiến cơ chế  điều  hành  CSTT  theo  xu hƣớng hiện đại hóa thị trường. Công cụ giá (lãi suất) đã đƣợc tự do hóa ở mức cao hơn so với các giai đoạn trƣớc, các  công cụ điều hành  CSTT  đã dần loại bỏ đƣợc các công cụ trực tiếp, hành chính, chuyển sang sử dụng chủ yếu các công cụ gián tiếp, mang tính thị trƣờng và phù hợp với thông lệ quốc tế (nhƣ OMOs, FX Swap) nhằm  tăng khả  năng điều tiết thanh khoản, lãi suất của NHNN. Tuy nhiên, về cơ bản, mục tiêu trung gian lƣợng cung tiền và tín dụng, cũng nhƣ mục tiêu hoạt động tiền cơ sở vẫn tiếp tục là yếu tố chi phối trong điều hành CSTT.

Tiếp đó, từ tháng 2/2008  đến 2011, trong bối cảnh lạm phát  2 con số và lãi suất  thị trƣờng bị đẩy lên mức cao (23,1% năm 2008) trong bối cảnh kinh tế suy giảm và có nhiều bất ổn, để khẩn trƣơng xử lý nguy cơ  xáo  trộn trên thị  trƣờng  tiền tệ, NHNN  nhận thấy  cần phải  tạm  chấm  dứt  vận  hành  cơ  chế điều hành lãi suất  theo mô hình tự do hóa trong điều kiện chƣa hội đủ các điều kiện cần thiết và chuyển sang  áp dụng cơ  chế điều hành lãi suất cơ  bản  vừa  phù  hợp  với  quy  định của pháp  luật  hiện hành, vừa  đạt đƣợc các mục tiêu của CSTT  là kiềm  chế lạm phát, hỗ  trợ tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống. Vì vậy, trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về  vấn đề  lãi suất cơ bản theo  quy định của Điều 476 Bộ luật Dân sự ―Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% của  lãi suất cơ  bản do NHNN công  bố đối với loại vay  tương  ứng”  và  Điều 9, 18 Luật  NHNN “NHNN xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp  vốn” và  “Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”, NHNN đã trình và đƣợc Thƣờng trực Chính phủ đồng ý cho thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. Theo đó, lãi  suất  cho  vay  tối  đa  của TCTD  đối  với  khách hàng cũng biến động theo lãi suất  cơ  bản.  Đối  với  lãi  suất  huy  động  bằng  VND,  NHNN bắt đầu áp trần trở lại từ tháng 2/2008 (Công điện số  02/CĐ-NHNN)  với  mức trần là 12%/năm áp dụng đối với tất cả kỳ hạn, sau đó, liên tục ban hành các  thông báo hoặc thông qua Hiệp hội Ngân  hàng  kêu  gọi  các  TCTD  đồng  thuận  áp  dụng  lãi  suất huy động không quá mức trần.

Tại Đề án phát triển ngành Ngân hàng  Việt  Nam  đến năm  2010 và  định hƣớng đến năm 2020 đã đƣợc ban hành kèm theo Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5/2006 của Thủ tƣớng Chính phủ đã định hƣớng đổi mới tổ chức và hoạt động của NHNN, theo đó, một trong những giải pháp đƣợc đƣa ra là: Điều  hành tiền tệ, lãi suất và tỷ giá hối đoái theo cơ chế thị trường thông qua sử dụng linh hoạt, có hiệu q uả các công cụ CSTT gián tiếp. Do đó, thời gian qua việc chuyển dần từ các công cụ, biện pháp trực tiếp, hành chính sang các công cụ, biện pháp mang tính thị trƣờng cao hơn đã đƣợc cụ thể hóa tại các văn bản Nghị quyết, Chỉ thị  của Chính  phủ và NHNN trong từng giai đoạn nhằm nâng cao hiệu quả điều tiết  vĩ  mô  nền kinh  tế. Từ  ngày  14/4/2010, căn cứ các Nghị quyết của Đảng, Quốc  hội  và  Chính phủ  về  tự do  hóa lãi  suất  đối với  một số dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả cao, NHNN  đã ban hành Thông tƣ số 12/2010/TT-NHNN và các văn bản hƣớng  dẫn  các  TCTD  thực  hiện  cho  vay  bằng  VND đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của dự án, phƣơng án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tƣ phát triển và đời sống  có  hiệu quả (với mức lãi suất cho vay  tối đa bằng 150% lãi  suất  cơ bản của NHNN công bố  trong  từng thời kỳ theo quy định tại Luật NHNN).

Từ năm 2012, thực hiện chỉ  đạo  tại  Nghị  quyết  số  11/NQ-CP  về  những  giải pháp chủ yếu tập trung kiềm  chế  lạm  phát, ổn định kinh tế  vĩ  mô, bảo  đảm an sinh xã hội, NHNN đã từng bƣớc  thử nghiệm kết  hợp giữa điều hành  CSTT theo  khối  lƣợng  và giá cả (lãi suất,  tỷ giá)  thông qua  việc  công bố  từ đầu năm tại Chỉ  thị 01 của NHNN về định hƣớng tăng trƣởng M2, tín dụng, phấn đấu giảm  mặt  bằng  lãi  suất  huy  động, cho vay và cam kết mức điều chỉnh tỷ giá. Đồng thời, điều tiết lãi suất thị trƣờng thông qua kết hợp giữa  công  cụ gián  tiếp (lãi suất  TCV,  lãi suất  chiết khấu, lãi suất cho vay  qua đêm, lãi suất OMOs) và  trực  tiếp (trần lãi  suất  huy động  ngắn hạn và  trần lãi  suất cho vay bằng VND đối với một số lĩnh vực  ƣu tiên), trong đó, lãi suất  OMOs  tiếp tục giữ vai trò chủ đạo điều tiết  mặt  bằng  lãi  suất thị trƣờng ở mức  hợp lý để kiểm soát  lạm phát, ổn định thị trƣờng, đảm bảo thanh khoản  của  các  TCTD,  đặc  biệt  TCTD  thuộc diện tái cơ cấu.

Như vậy, từ khi bắt đầu thiết lập cơ chế điều hành CSTT và lãi  suất  đến nay, NHNN đã bổ sung vào mục  tiêu  trung gian và  mục  tiêu hoạt  động các  chỉ  tiêu về  giá (lãi suất, tỷ giá) neo danh nghĩa hữu hiệu kết hợp với các giải  pháp  truyền thông chính  sách chủ động, kịp thời và minh bạch để  điều hành  CSTT nhằm  kiểm soát  tốt  kỳ vọng của thị trường góp phần vào kết quả ổn định kinh tế vĩ mô thời gian qua.