Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân là gì?

 

Thuế thu nhập cá nhân là một trong những loại thuế thu nhập, vì vậy nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm, ưu điểm và nhược điểm của thuế trực thu. Trong đó có nhược điểm là gây ra phản ứng thuế từ những chủ thể nộp thuế đây cũng chính là chủ thể gánh chịu thuế. Do đó pháp luật về thuế thu nhập nói chung và thuế thu nhập nói riêng luôn có quy định rất chi tiết đầy đủ các căn cứ tính thuế. Điều này giúp nhà nước quản lý tốt hơn các khoản thuế thu nhập đồng thời tạo tâm lý thoải mái và hợp tác giữa các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế. Điểm nổi bật trong cách tính thuế thu nhập chính ở các căn cứ tính thuế, nếu như trong thuế gián thu nhà nước quy định căn cứ tính thuế là giá trước thuế và thuế suất thì trong thuế thu nhập các căn cứ tính thuế dựa trên 2 tiêu chí thu nhập của cá nhân và biểu thuế suất. Tuy nhiên tuỳ từng thời kỳ mà những tiêu chí này có sự khác biệt nhất định. Sự phù hợp của các tiêu chí với thực tiễn được thể hiện cụ thể qua sự phát triển của hai văn bản pháp luật thuế thu nhập dành cho cá nhân là:

–         Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001 được sửa đổi bổ sung năm 2004;

–         Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009.

Trước tiên các căn cứ tính thuế trong pháp luật thuế thu nhập của Việt Nam cũng có sự khác biệt với thuế thu nhập các nước trên thế giới. Theo pháp luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam căn cứ tính thuế theo lĩnh vực nếu thuộc những lĩnh vực đó thì cá nhân có thu nhập mới phải chịu thuế. Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với nguời có thu nhập cao năm 2001 được sửa đổi bổ sung năm 2004 thì có các khoản thu nhập chịu thuế ( các khoản thu nhập chịu thuế bao gồm các khoản thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên), các khoản thu nhập không chịu thuế ( bao gồm các khoản thu nhập nhằm đảm bảo điều tiết thu nhập hợp lý và các khoản thu nhập nhằm thực hiện những chính sách xã hội của Nhà nước như thu nhập từ tiền trợ cấp xã hội, bồi thường bảo hiểm thu nhập của chủ hộ kinh doanh cá thể thuộc diện chịu thuế thu nhập doanh nghiệp…)(Điều 2 và Điều 3). Mặc dù đã phân chia ra nhiều lĩnh vực với tính chất ổn định khác nhau của thu nhập cá nhân tuy nhiên vẫn chưa thể bao quát hết các khoản thu nhập phải chịu thuế của cá nhân. Vì vậy không đảm bảo tối đa được tính chất điều tiết thu nhập của pháp luật thuế đối với người có thu nhập cao.

1. Xác định căn cứ tính thuế hợp lí : 

Luật thuế TNCN năm 2007 không giống với Pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao tại đây không có quy định về phân loại thành các khoản thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên mà căn cứ theo nguồn gốc thu nhập mà đưa ra quy định rất chi tiết các khoản thu nhập phải chịu thuế và các khoản thu nhập không phải chịu thuế tại Điều 3 và Điều 4 như đã phân tích ở phần trên.

Từ đó, Luật thuế thu nhập năm 2007 sử dụng tiêu chí cư trú và không cư trú làm căn cứ xác định các khoản thu nhập chịu thuế. Theo đó, giống như pháp luật của nhiều nước khác, Luật thuế TNCN qui định đối tượng cư trú phải nộp thuế với các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh ở cả nước cư trú và cả ngoài nước cư trú. Còn đối tượng không cư trú chỉ phải nộp thuế với khoản thu nhập phát sinh ở nước sở tại. Cụ thể : theo điều 2 của Luật thuế TNCN :

Thu nhập chịu thuế của những người cư trú tại Việt Nam là toàn bộ những khoản thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

          Thu nhập của cá nhân không cư trú tại Việt Nam chỉ chịu thuế những khoản thu nhập phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.

Điều này là hoàn toàn hợp lí, thể hiện sự thống nhất của Luật thuế TNCN, đồng thời phù hợp xu hướng chung trên thế giới trong cách điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân.

      Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 cũng rất mới khi đưa ra quy định cụ thề về các căn cứ, đặc biệt là áp dụng các mứcthuế suất riêngphù hợp cho hai trường hợp là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Các quy định này đã thể hiện sự thống nhất về nghĩa vụ thuế giữa cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Từ đó, tạo sự bình đẳng giữa người Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam.

         Đối với cá nhân cư trú tại Việt Nam thu nhập tính thuế được xác định cụ thể tại các Điều 10 đến điều 21:

Luật thuế thu nhập năm 2007 đưa ra biểu thuế luỹ tiến  từng phần với mức thuế suất đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công tăng dần từ thấp tới cao mức thuế suất thấp nhất là 5% áp dụng với thu nhập tính thuế từ 5 triệu đồng trên tháng và mức cao nhất là 35% với thu nhập tính thuế từ 80 triệu đồng trên tháng trở lên.(Điều 22 Luật thuế thu nhập năm 2007). So với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã được sửa đổi bổ sung năm 2004 mức thuế suất cao nhất là 40% áp dụng với người có thu nhập tính thuế từ 40 triệu đồng trên tháng trở lên. Như vậy mức thuế suất Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đề ra được xem là tương đối phù hợp đối với thu nhập của người dân Việt Nam hiện nay. Khi mà mức lương tối thiểu của người dân chỉ là 540000 đồng/ tháng.

Với những khoản thu nhập ngoài kinh doanh, tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế toàn phần để điều tiết thu nhập. Ở đây, sự đổi mới, ưu điểm nổi trội của Luật thuế TNCN là qui định nhiều mức thuế đối với từng loại thu nhập để đảm bảo sự điều tiết hợp lí. Cụ thể :

Đối với thu nhập từ đầu tư, bản  quyền thương mại, nhượng quyền thương mại chỉ áp dụng thuế suất 5% để đảm bảo nhà đầu tư, kinh doanh có lợi nhuận để tích lũy tái hoạt động về sau. Hơn nữa, mức thuế suất thấp và cách điều tiết theo từng loại thu nhập khác hẳn kiểu điều tiết lũy tiến nhưng tính trên tổng thu nhập như Pháp lệnh đã tạo sự an tâm, chính sách thuế nới lỏng của Việt Nam đối với các hoạt động đầu tư. Từ đó, nó tạo động lực thúc đẩy môi trường đầu tư lớn mạnh.

Mặt khác, có những thu nhập tính thuế như thu nhập từ bản quyền, trúng thưởng, nhượng quyền thương mại, thừa kế, qua tặng thì mức thu nhập khởi điểm tính thuế là trên 10 triệu đồng trên từng lần. Qui định mức khởi điểm chịu thuế như vậy là thấp hơn so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người thu nhập cao để đảm bảo việc điều tiết tối đa các nguồn thu nhập trong xã hội.

Mức thuế cao nhất là 25% thu nhập thu được từ chuyển nhượng bất động sản, do chuyển nhượng bất động sản là một trong những hoạt động có được lợi nhuận cao. Việc qui định như vậy để tạo ra tính công bằng trong điều tiết thu nhập xã hội. Tuy nhiên không phải hoạt động chuyển nhượng bất động sản nào cũng phải chịu thuế thu nhập. Ví dụ như : thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa những ngưởi thân, không nhằm mục đích lợi nhuận như : vợ chồng; cha đẻ mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể; ông nội bà nội với cháu nội, ông ngoại bà ngoài với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau(khoản 1 và 2 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007).

      Đối với cá nhân không cư trú tại Việt Nam:  mức thu nhập tính thuế là toàn bộ thu nhập mà cá nhân đó có được nhờ các hoạt động của mình tại Việt Nam như thu nhập từ kinh doanh, tiền lương tiền công, chuyển nhượng bất động sản… Thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú tại Việt Nam được xác định bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương tiền công, (thu nhập chịu thuế từ tiền lương tiền công là tổng số tiền lương tiền công mà cá nhân không cư trú nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam không phân biệt nơi trả thù lao) nhân với thuế suất 20%. Mức thuế suất 20% là mức thuế suất chung áp dụng cho tất cả các khoản thu nhập chịu thuế mà không phân chia thành từng mức như thu nhập chịu thuế của cá nhân cư trú tại Việt Nam.  Trong khi đó, với qui định của Pháp lệnh thì mức thuế suất đối với tòan bộ thu nhập cảu người nước ngòai không cư trú tại Việt Nam là 25%. Tức là, nếu so với pháp lệnh thì mức thuế suất qui định trong Luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú, trong đó chủ yếu là người nước không cư trú đã giảm đi 5%. Việc giảm thuế suất này thể hiện thiện chí của Việt Nam trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngòai vào lam ăn, sinh sống tại Việt Nam.

Ngoài ra khác với quy định về  thu nhập chịu thuế đối với người có thu nhập cao năm 2001 sửa đổi năm 2004 quy định người không cư trú tại Việt Nam phải có thu nhập tính thuế từ 8 triệu đồng trên tháng mới phải chịu thuế thu nhập thì nay pháp luật không quy định mức thu nhập khởi điểm đối với người không cư trú tại Việt Nam.

 

Nó tạo ra sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế thu nhập của mọi cá nhân trong và ngoài nước từ đó thúc đẩy cá nhân tích cực tham gia nghĩa vụ thuế tránh tình trạng trốn tránh gây thất thoát cho ngân sách nhà nước

2. Qui định cách tính mức thu nhập chịu thế hợp lí:

Luật thuế thu nhập năm 2007 có qui định việc giảm trừ những chi phí hợp lí liên quan mà người có thu nhập phải chi phí khi tính thu nhập chịu thuế để đảm bảo sự công bằng và hợp lí. Cụ thể : thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 10 và Điều 11 có trừ đi các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp với một số ngành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, các khoản giảm trừ như giảm trừ gia cảnh, giảm trừ các khoản đóng góp từ thiện nhân đạo.

Mức thu nhập chịu thuế với những khoản thu nhập mang tính chất không thường xuyên trước đây là 2 triệu đồng năm 2001 sau sửa đổi thành 15 triệu đồng trong từng lần vào năm 2004 tuy nhiên đến năm Luật thuế thu nhập năm 2007 mức thu nhập chịu thuế cho từng lần giảm xuống chỉ còn  trên 10 triệu đồng. Như vậy mức thu nhập chịu thuế này nằm trong khoảng giữa 2 mức thu nhập tính thuế nói chung nó thật sự phù hợp với thực tế.

Ví dụ : Nếu mức thu nhập chịu thuế so với mỗi lần trúng thưởng là 2 triệu đồng con số này quá thấp chẳng hạn một người trúng xổ số 1 lần duy nhất 2 triệu đồng phải đóng thuế trong khi đó người có thu nhập tiền lương hàng tháng từ 3 triệu trở lên mới phải đóng thuế. Như vậy không phát huy được tính điều tiết thu nhập của thuế thu nhập cá nhân.

Cũng tương tự như vậy với trường hợp mức thu nhập tính thuế từ 15 triệu đồng trở lên cũng không phù hợp. Có thể thấy Luật thuế thu nhập năm 2007 đã xác định cụ thể về thu nhập tính thuế để đảm bảo rõ ràng và dễ hiểu cho mọi cá nhân.

Không chỉ đặc biệt ở mức thuế suất quy định phù hợp Luật thuế thu nhập năm 2007 được xem là một trong những luật thuế tiên tiến hiện nay. Luật thuế thu nhập cá nhân hứa hẹn sẽ thu được hiệu quả rất cao khi áp dụng vào thực tiễn đời sống từ ngày 1 tháng 1 năm 2009. Luật thuế thu nhập cá nhân đã tính tới những yếu tố miễn trừ thuế hết sức phù hợp. Khi tính thuế đối với cá nhân cư trú có tính đến các khoản giảm trừ gia cảnh, giảm trừ đối với các khoản đóng góp nhân đạo từ thiện trừ vào thu nhập trước khi tính thuế. Đây là điểm mới đáng ghi nhận cảu Luật thuế TNCN mà pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao không có. Nó được xem như là sự khắc phục hạn chế lớn nhất của Pháp lệnh trong điều tiết thuế thu nhập. Quy định này đã làm giảm nhược điểm về tính luỹ thoái của thuế thu nhập cá nhân. Cùng với thu nhập như nhau nhưng nếu cá nhân nào có người phụ thuộc sẽ được giảm trừ một số tiền trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, tiền thu nhập từ kinh doanh của đối tượng nộp thuế. Đồng thời thu nhập tính thuế cũng được trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số nghành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc và các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo(Điều 19, 20, 21 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007).

Quan trọng là cách tính thuế trong Luật thuế TNCN thể hiện sự linh hoạt khi sử dụng nhiều mức thuế suất khác nhau, áp dụng hai kiểu tính thuế suất là thuế suất lũy tiến và thuế suất toàn phần, đồng thời khi tính thu nhập trong một số  trường hợp là tính thuế đối với riêng lẻ từng loại thu nhập rồi mới tính tổng số tiền thuế cần nộp. Cách tính như này đảm bảo việc điều tiết thu nhập cá nhân là hợp lí, không lấy đi quá nhiều thu nhập như cách tính thuế suất lũy tiến đối với tổng thu nhập như pháp lệnh gây ra phản ứng thuế tiêu cực từ phía người nộp thuế.

Có thể nói, căn cứ tính thuế là một trong những nội dung quan trọng nhất của một loại thuế. Căn cứ tính thuế được xác định phù hợp mới tạo ra tính hoàn thiện của một luật thuế. Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đã hoàn thành khá tốt nhiệm vụ này.