Cạnh tranh kinh tế quốc tế và sự tác động tới Việt Nam

 

Ngay trong thời kỳ đầu của thế kỷ 19 nhà kinh tế cổ điển vĩ đại người Anh Đavit Ricacđô đã cho rằng sự hoạt động không bị hạn chế của quy luật lợi thế tương đối làm cho mọi người ngày càng phát đạt hơn. Ông nói: mỗi quốc gia cần tự do lựa chọn hướng chuyên môn hóa vào những sản phẩm có hiệu quả và giành việc sản xuất sản phẩm khác cho những nước nào có khả làm việc đó một cách có hịêu quả nhất. Như vậy nền kinh tế thế giới sẽ có nhiều hàng hoá hơn được đem ra trao đổi thông qua ngoại thương.
Từ đó tới nay, thực tiễn kinh tế thế giới đã chững minh hùng hồn sức mạnh chân lý của lý tưởng vĩ đại đó. Ngày nay, ánh đèn neon quảng cáo của các công ty đa quốc gia Nhật bản, Mỹ, cộng đồng Châu Âu và các nước Nies đã chiếu sáng rực rỡ bầu trời của hầu hết các thành phố trên thế giới. Các công ty này đã vươn rộng các chi nhánh của chúng để khai thác triệt để các khả năng lợi thế so sánh tương đối trong sản xuẩt ở mọi nơi trên trái đất và cả lợi thế tương đối về quy mô của bản thân chúng. Tính kinh tế, hiệu quả của quy mô càng được mạnh thông qua việc đầu tư ra thị trường nước ngoài và ưu thê của các quy mô kinh tế đó đã vượt qua được những quy đinh và rủi ro về tài chính khi hoạt động trên phạm vi thế giới.

Nói tới cạnh tranh là nói tới thị trường và ngược lại, nói tới thị trường là nói tới cạnh tranh. Ngược lại, thị trường mà không có cạnh tranh thì không còn là thị trường nữa. Mặt tích cực của thị trường cũng là mặt tích cực của cạnh tranh. Mặt tiêu cực của thị trường tồn tại theo quan niệm của nhiều người, cũng là mặt tiêu cực của cạnh tranh. ý đồ tạo lập thị trường không có cạnh tranh, “thị trường có tổ chức” đã sụp đổ hoàn toàn vì nó không tao ra được cơ chế phân phối tối ưu các nguồn lực của xã hội. Triệt tiêu cạnh tranh là làm mất tính năng động sáng tạo của mỗi con người cũng như của toàn xã hội, nền sản xuất xã hội sẽ không có hiệu quả- nguồn gốc của việc nâng cao đời sống nhân dân.

Ngày nay, cạnh tranh kinh tế quốc tế vừa mang tính chất kinh tế vừa mang tính chất chính trị, hay nói chính xác hơn, cạnh tranh kinh tế quốc tế được phát triển trên cơ sở sự thống nhất kinh tế và chính trị. Chúng ta có thể thấy rất nhiều sự kiện xảy ra trên thế giới minh chứng cho điều này. Cạnh tranh kinh tế quốc tế lên đến đỉnh cao thường được gọi là chiến tranh kinh tế. Chiến tranh kinh tế ngoài mục tiêu kinh tế giống như cạnh tranh kinh tế nhằm thu lợi nhuận, chiến tranh kinh tế nhằm mục đích khác, có thể là quân sự, phi quân sự, để hỗ trợ cho một cuộc chiến tranh quân sự như kiểm soát tàu hàng, phong toả cảng, chiến thuật vùng đất trống. Chiến tranh kinh tế còn về chính trị thường nhằm mục đích làm cho một nước hoặc một nhóm nước bị phụ thuộc và buộc họ phải thay đổi chính sách của mình với các biện pháp thường dùng là cấm vận hoặc trừng phạt. Như vậy, chiến tranh kinh tế có thể có những đặc trưng khác với cạnh tranh kinh tế.

Lý luận kinh tế học đã chỉ ra tình trạng cấm chợ ngăn sông, hạn chế cạnh tranh trong một quốc gia sẽ gây thiệt hại lớn, lãng phí ghê gớm các nguồn lực. Hạn chế cạnh tranh kinh tế quốc tế, thực hiện chế độ bảo hộ dưới mọi hình thức khác nhau cũng sẽ gây thiệt hại to lớn, lãng phí nhiều hơn cho nền kinh tế thế giới ở phương diện tổng thể. Thật vô lý khi người ta phải mua những hàng hoá phải đắt hơn hoặc chất lượng thấp hơn, xấu hơn trong khi vẫn có người sẵn sàng bán những hàng hóa đó với giá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn. Thế nhưng, lợi ích toàn cục, lợi ích toàn nhân loại vẫn cứ phải lùi bươc trước những lợi ích cục bộ và nhất thời bởi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.