Cấu trúc của hệ thống phân phối quốc tế

Cấu trúc kênh phân phối ở các nước không giống nhau, thường thì ở các nước đang phát triển, hoạt động Marketing không sôi động thì kênh phân phối khá đơn giản, trong khi đó ở các nước phát triển như Nhật Bản chẳng hạn, cấu trúc kênh phân phối là một hệ thống hết sức phức tạp, gồm nhiều cấp bậc khiến cho việc phân phối hàng hoá khá tốn kém.

Ở trong nước, người bán phải có phòng chuyên trách (thường là bộ phận bán hàng hoặc bộ phận Marketing quốc tế của công ty) làm việc với các thành viên cần thiết thuộc kênh phân phối trong việc di chuyển hàng hoá giữa các nước. ở thị trường nước ngoài, người bán phải giám sát hệ thống kênh phân phối cung cấp sản phẩm tới khách hàng cuối cùng. Thực ra các công ty đều muốn kiểm soát hay tham gia trực tiếp vào quá trình phân phối thông qua các thành viên của kênh tới khách hàng cuối cùng. Nếu một công ty không tích cực trong việc kiểm soát kênh phân phối có thể sẽ phải chấp nhận một hệ trống phân phối không đảm bảo và dẫn tới thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu Marketing. Nhưng trên thực tế, sự tham gia kiểm soát hệ thống kênh phân phối không phải luôn thực hiện được, bên cạnh đó chi phí cho hoạt động này không phải là nhỏ. Do vậy, việc lựa chọn đối tượng tham gia và việc quản lý hệ thống kênh phân phối là những vấn đề được ưu tiên hàng đầu trong việc thiết lập một hệ thống phân phối.
Hàng triệu người Mỹ Latinh là những người tiêu dùng chủ động tìm kiếm ít nhất một vài sản phẩm, đó là những người sống ở những vùng xa xôi, khó khăn trong việc đi lại. ở Mexico, các công ty phải liên tục cải tiến phương pháp phân phối nhằm phục vụ những làng mạc hẻo lánh trên núi hay trong rừng.

Sabritas, một công ty được coi là lớn nhất trong lĩnh vực sản xuất thức ăn nhanh ở Mexico với một trong những mạng lưới phân phối sản phẩm rộng nhất Mexico. Công ty này chia thị trường trong nước làm 220 vùng, được phục vụ bởi 7000 xe ôtô chuyên chở. Những tuyến ở những vùng xa xôi hẻo lánh nhất được thực hiện mỗi tuần một lần (trong khi ở những vùng trung tâm là một ngày một lần), thường người ta sử dụng ôtô để chuyên chở hàng hoá trong những điều kiện khó khăn. Lái xe thường ngủ trên ôtô hay tìm một chỗ ngủ trong các kho hàng nằm dọc đường. Nhiều kho hàng ở vùng nông thôn cũng phục vụ như những trung tâm phân phối cho những vùng giao thông đi lại kém thuận tiện hơn. Những kho hàng nằm ở dọc đường cũng phục vụ các mục đích Marketig; Đây là điểm thu thập những phiếu thưởng đối với sản phẩm từ những khách hàng ở những vùng xa xôi.
ở một số nơi, thậm chí những ôtô của Sibritas cũng không thể tới được. Các nhà phân phối tiếp cận với các làng mạc ở những vùng hồ của bang Veracrus bằng canô, trong khi ở những vùng núi các lái xe có thể thực hiện việc vận chuyển hàng hoá bằng lừa từ những vùng thấp, nơi kết thúc của các tuyến đường bộ. Dicosa, một công ty thực phẩm khác, dùng tầu vận chuyển hàng hoá trên những con sông chính nhằm cung cấp cho các kho nhỏ hoặc bán tới những làng mạc xa xôi, các trại gia súc.

Mặc dù có những khó khăn trong việc cung cấp hàng hoá tới những vùng hẻo lánh, Sabritas nói rằng doanh số bán hàng của họ vẫn bảo đảm cho những nỗ lực tiếp theo trong việc phân phối hàng hoá ở một nước có trên 25% người tiêu dùng sống ở vùng nông thôn.