Chất lượng đội ngũ công chức trong bộ máy chính quyền cấp tỉnh có liên quan đến giảm nghèo bền vững

Đứng trên góc độ lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy một quốc gia có đội  ngũ công chức quản lý đất nước tài giỏi, đất nước đó sẽ thu hoạch được nhiều thành công. Nhật Bản qui định rõ vị trí, vai trò của công chức là “công bộc của nhân dân” trong Hiến pháp (1947). Singapore quan niệm về vai trò của công chức là “chìa khóa thành công”… Ngược lại, đội ngũ công chức thiếu đạo đức, yếu về năng lực chuyên môn chỉ biết tham nhũng, bè phái thì đất nước sẽ lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc, khủng hoảng và suy thoái. Như vậy, có thể thấy dù ở Nhà nước hay tổ chức nào thì con người luôn giữ vị trí trung tâm, quyết định sự thành, bại của quốc gia hay tổ chức đó.

Ở cấp quốc gia đã cho thấy công chức có vai trò rất quan trọng thì tất yếu với đặc điểm là cánh tay nối dài về quản lý kinh tế từ trung ương xuống địa phương và cũng đồng thời là bàn tay chỉ đạo và tổ chức thực hiện tại địa phương. Đối với GNBV thì  chất lượng công chức thực hiện nhiệm vụ này đóng vai trò quyết định. Điều này được thể hiện:

Thứ nhất, đội ngũ công chức trong bộ máy CQCT  có liên quan đến  GNBV  vùng miền núi là đại diện CQCT tại địa phương để thực hiện nhiệm vụ. Do đó, đội ngũ công chức này được giao quyền hạn và trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ GN có chất lượng cao sẽ đảm bảo cho công việc được thực hiện tốt và ngược lại.

Thứ hai, đội ngũ công chức trong bộ máy CQCT có liên quan đến GNBV vùng miền núi là “cầu nối” giữa các cấp chính quyền địa phương với chính quyền Trung  ương trong thực hiện GN. Đội ngũ công chức này có nhiệm vụ tổ chức thực hiện và hướng dẫn chính sách GN của Trung ương cho chính quyền các cấp ở địa phương,  đồng thời đưa ra các kiến  nghị, giải pháp với Trung ương để điều chỉnh chính sách    và luật pháp cho phù hợp với điều kiện vùng miền  núi về GN trong từng giai đoạn,  từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, chất lượng đội ngũ công chức cao sẽ đảm bảo cho”cầu nối” được tốt và sẽ phát hiện những bất hợp lý trong các chính sách, các quy định liên quan đến GNBV vùng miền núi không phù hợp, để từ đó đề xuất kiến nghị sửa đổi bổ sung.

Thứ ba, đội ngũ công chức trong bộ máy CQCT có liên quan đến GNBV vùng  miền núi có trách nhiệm tham mưu cho CQCT về hoạch định chiến lược, kế hoạch    phát triển kinh tế và xây dựng các chính sách, các quy định phù hợp với điều kiện    vùng miền núi; tổ chức thực hiện nhiệm vụ GNBV vùng miền núi trên địa bàn. Vì vậy, chất lượng đội ngũ công chức cao sẽ thực hiện tốt tham mưu trong việc xác đúng chiến lược, kế hoạch và ban hành các chính sách cũng như tổ thực thực hiện vụ GNBV phù hợp với điều kiện vùng miền núi.