Chất lượng tăng trưởng hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá

Cơ cấu hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá xuất khẩu theo thị trường

Đối thủ cạnh tranh hoạt động kinh doanh sản phẩm TCMN mây tre lá ở Châu Á có tính cạnh tranh cao. Đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam về SP làm bằng tre là Trung Quốc, còn về SP mây là Indonesia và Philippines. Indonesia là nước SX các SP mây lớn nhất trên thế giới, và đã phát triển được nhiều cụm SX sản phẩm mây tập trung tại đảo Kalimantan và vùng Cerebon.

XK các mặt hàng TCMN mây tre lá của Việt Nam theo hướng tập trung cao với hơn 50% tổng kim gạch XK sang 5 nước lớn, bao gồm: Mỹ (chiếm gần 1/4), Đức, Nhật Bản, Pháp và Anh. Các TT đang tăng trưởng là các nước Tây Ban Nha, Úc và Canada, với giá trị NK hàng TCMN mây tre lá từ Việt Nam tăng dần qua các năm trong giai đoạn 2008-2015. Cơ cấu thị trường XK hàng TCMN mây tre lá năm 2018 thể hiện qua Biểu 3.6:

Các điều kiện thâm nhập TT với mặt hàng TCMN mây tre lá của Việt Nam nhìn chung là không quá khó khăn. Việt Nam gần như được tự do thâm nhập TT và hưởng các điều kiện tương tự các đối thủ cạnh tranh. Đối với mặt hàng mây tre, SP có doanh thu XK cao nhất của Việt Nam được tự do XK sang các nước như Đức, Úc, Anh, Pháp, Nhật Bản, Tây Ban Nha… với thuế suất là 0%, chỉ riêng với nước Mỹ là 4,8%; tương tự mặt hàng   trên thì đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam là Trung Quốc phải chịu mức thuế suất cao hơn, cụ thể là XK sang các nước Đức, Anh, Pháp, Tây Ban Nha mức thuế suất là 3%, Nhật Bản là 2,9% và với Mỹ cũng là 4,8%.

Tuy nhiên có những SP tre của Việt Nam mang những đặc trưng và kỹ thuật SX    độc đáo mà các quốc gia trong khu vực không SX được, ví dụ SP tre cuốn, tạo cho Việt Nam một sức hút đối với các nhà NK nước ngoài. Tiềm năng XK các mặt hàng TCMN   mây tre lá của Việt Nam được đánh giá là tương đối cao, so với doanh thu chỉ được đánh  giá ở tiềm năng trung bình. Điều này cho thấy, còn nhiều TT trên thế giới để hàng TCMN mây tre lá Việt Nam thâm nhập và phát triển hơn nữa trong tương lai.

Tổng sức mua hàng TCMN mây tre lá của TT thế giới được dự báo là gần 5 tỷ USD vào năm 2020.

So sánh bảng 3.8 bảng 3.10 có thể thấy thị phần XK hàng TCMN mây tre lá của Việt Nam vào các thị trường NK hàng TCMN mây tre lá trọng điểm trên thế giới mới chiếm gần 4%. Sức mua của các TT này cũng tăng trung bình khoảng 7%/năm. Đây là cơ hội rất  tốt để mở rộng thị phần các SP hàng TCMN mây tre lá XK của Việt Nam.

Thị trường cầu thế giới về các mặt hàng TCMN mây tre lá dự báo vào năm 2020  đạt khoảng 5 tỷ USD; nước NK lớn nhất thế giới là Mỹ với kim  ngạch khoảng 1,3 tỷ USD, chiếm khoảng 27% TT cầu thế giới.  Kim ngạch  NK hàng TCMN mây tre lá của  Mỹ có xu hướng tăng dần qua các năm. Nhật Bản là TT tiêu thụ hàng TCMN mây tre lá đứng thứ hai thế giới, dự báo năm 2020 nước này NK từ TT thế giới khoảng 500 ngàn  USD, tương đương khoảng 9% nhu cầu thế giới; giá trị NK hàng TCMN mây tre lá của  Nhật tăng bình quân khoảng 19% một năm. Thị trường NK thứ 3 thế giới là nước Đức,   năm 2020 giá trị NK dự báo là gần 200 ngàn USD, chiếm khoảng 4% giá trị NK toàn thế giới. Một số nước trong các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), những năm gần đây có nhu cầu về hàng TCMN mây tre lá tăng khá mạnh, dù giá trị NK chỉ chiếm khoảng 2% giá trị thế giới, nhưng tốc độ tăng trưởng NK là tương đối cao, có thể còn tiếp tục tăng trong tương lai, điều này cho thấy rằng đây là TT tiềm năng mặt hàng TCMN mây tre lá  cho các nước XK trên thế giới.

Chuyển dịch cơ cấu hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá xuất khẩu của Việt Nam theo mức độ sản xuất-chế biến.

Trong thời gian qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng TCMN mây tre lá XK theo mức độ SX-chế biến chưa có sự thay đổi lớn. Tại Việt Nam, ngành thiết kế hầu như chưa phát triển mặc dù đã có một số trường đạo tạo về thiết kế. Chưa có các thống kê cụ thể  nhưng đa số ý kiến đều cho rằng trên 80% các SP thiết kế trong nhóm ngành hàng TCMN của Việt Nam được cung cấp bởi khách hàng. Các DN Việt Nam chỉ thuần túy gia công, bán nguyên liệu và sức lao động chứ chưa tạo ra được các giá trị gia tăng thực thụ vì thế phụ thuộc khá nhiều vào thời vụ và giá cả quốc tế. Do thiếu thiết kế, các DN và làng nghề  thường có tình trạng sao chép lại mẫu mã của nhau và làm cho sự cạnh tranh tiêu cực trong nội bộ ngành ngày càng khốc liệt hơn. Các nhà SX và XK hàng TCMN mây tre lá ít có khả năng kiểm soát giá trị SP và gây ra sự suy giảm toàn chuỗi giá trị gia tăng của ngành nói chung và bảo đảm PTBV xuất khẩu nói riêng.

Thiết kế hướng tới PTBV (Design for Sustainability-D4S) có tiềm năng cải thiện hiệu suất, nâng cao chất lượng SP và mở rộng các cơ hội về TT, đồng thời có thể giảm bớt các tác động xấu đến MT. Thiết kế hướng tới PTBV bao hàm cả những khía cạnh như các vấn đề về XH của PTBV và nhu cầu về phát triển những cách thức mới đáp ứng người tiêu  dùng với lượng tiêu thụ tài nguyên ít hơn.

Thực tế trên thế giới việc đầu tư vào phát triển thiết kế, nói cụ thể hơn là đầu tư vào ngành dịch vụ thiết kế đã trở thành một chiến lược mang tầm quốc gia để nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia đó. Từ năm 1944, chính phủ Anh đã thành lập Hội đồng Thiết kế quốc gia và hiện tại xác định rõ “Trước năm 2020, Anh phải tạo ra được một  nền KT trí  thức cân đối và bền vững trong đó thiết kế đóng một vai trò trung tâm và chủ chốt”. Ở Châu Á, Chính phủ Ấn Độ đã phê chuẩn Chiến lược thiết kế quốc gia năm 2007, ở Thái Lan văn phòng Thủ tướng là đơn vị quản lý trực tiếp quản lý Trung tâm thiết kế và sáng tạo quốc gia. Còn Philippine cũng đã kỷ niệm 26 năm ngày thành lập ngành dịch vụ thiết kế và phát triển SP đã đưa thương hiệu thiết kế Philippine nổi tiếng trên thế giới. Các chuyên gia đã khái  quát rằng “Mười lăm năm trước các công ty cạnh tranh về giá, hiện tại đang cạnh tranh về chất lượng nhưng ngày mai sẽ là thiết kế” và “Trong nền KT toàn cầu, thiết kế trở thành một lợi thế so sánh mang tính quyết định” .