Chế độ pháp lý về xuất khẩu lao động

 

1. Điều kiện để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật xuất khẩu lao động

a) Đối với người lao động

                         Đối tượng được xuất khẩu lao động

Theo qui định tại khoản 2 điều 134 Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2002) qui định : “Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng lao động, tự nguyện và có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện khác theo pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của bên nước ngoài thì được đi làm việc ở nước ngoài”.

                         Đối tượng không được xuất khẩu lao động

Theo quy định của pháp luật lao động những đối tượng dưới đây không được tuyển đi làm việc ở nước ngoài:

Cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan dân cử, cơ quan đoàn thể, chính trị, xã hội.

Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang tại ngũ trong quân  đội nhân dân, Công an nhân dân.

Người chưa được phép xuất cảnh theo qui định hiện hành của pháp luật.

Theo qui định những người chưa được phép xuất cảnh thuộc một trong các trường hợp sau đây:

–                        Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang có nghĩa vụ thi hành bản án hình sự hoặc đang bị cơ quan điều tra yêu cầu chưa cho xuất cảnh hoặc chưa cấp hộ chiếu để phục vụ công tác điều tra tội phạm.

–                        Người đang có nghĩa vụ thi hành bản án chờ để giải quyết các vấn đề về tranh chấp dân sự, kinh tế, hành chính, chờ để thi hành quyết định xử phạt hành chính, đang có nghĩa vụ nộp thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính khác theo qui định của pháp luật Việt Nam, trừ các trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản bảo lãnh bằng tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

–                        Người đã vi phạm qui chế xuất nhập cảnh và bị xử phạt từ cảnh cáo hành chính trở lên thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ 1 đến 5 năm tính từ ngày bị xử lý vi phạm.

–                        Người bị nước ngoài trục xuất vì vi phạm pháp luật của nước sở tại, nếu hành vi đó là nghiêm trọng, có hại cho lợi ích và uy tín của Việt Nam thì chưa được xuất cảnh trong thời gian từ 1 đến 5 năm tính từ ngày trở về Việt Nam.

–                        Người mà Bộ Y tế đề nghị chưa cho xuất cảnh vì lý do y tế

–                        Các trường hợp khác vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

b) Đối với doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động

Doanh nghiệp XKLĐ phải có giấy phép của cơ quan quản lý Nhà nước về lao động có thẩm quyền.

Đối tượng được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ bao gồm:

  1. 1.  Doanh nghiệp Nhà nước
  2. 2.  Công ty cổ phần mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối
  3. 3.  Doanh nghiệp thuộc cơ quan trung ương của các tổ chức: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và doanh nghiệp thuộc Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
  4. 4.  Các doanh nghiệp khác do Thủ Tướng Chính Phủ xem xét và quyết định

Điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ 

Để đảm bảo cho hoạt động XKLĐ đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp, đồng thời thực hiện tốt các chính sách kinh tế – xã hội của đất nước, theo qui định tại điều 9 Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ có qui định về điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ như sau:

  1. 1.  Có đề án hoạt động xuất khẩu lao động của doanh nghiệp theo hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã Hội
  2. 2.  Có vốn điều lệ từ 5 ( năm) tỉ đồng trở lên
  3. 3.  Có trụ sở làm việc ổn định, có cơ sở đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
  4. 4.  Có ít nhất 7 (bảy) cán bộ chuyên trách có trình độ từ cao đẳng trở lên thuộc các chuyên ngành kinh tế, pháp luật và ngoại ngữ. Đội ngũ cán bộ chuyên trách này phải có lí lịch rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt, không có tiền án, không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên trong hoạt động XKLĐ.
  5. 5.  Ký quỹ 500 ( năm trăm) triệu đồng tại các ngân hàng

            

2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật  XKLĐ

a) Quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

a1) Quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua doanh nghiệp XKLĐ

  1. Được cung cấp các thông tin về chính sách, pháp luật về xuất khẩu lao động, các thông tin về tiêu chuẩn và điều kiện tuyển dụng, thời hạn hợp đồng, loại công việc sẽ làm và nơi làm việc, điều kiện làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền làm thêm giờ, phụ cấp khác (nếu có), chế độ bảo hiểm và những thông tin cần thiết khác theo hợp đồng cung ứng lao động.
  2. Được đào tạo giáo dục, định hướng và cấp chứng chỉ và đóng học phí theo qui định của pháp luật.
  3. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp XKLĐ, ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước ngoài, thực hiện đúng các hợp đồng đã ký và nội qui nơi làm việc, nơi ở. Không được tự ý bỏ hợp đồng hoặc tổ chức lôi kéo người khác bỏ hợp đồng lao động.
  4. Được bảo đảm các quyền lợi trong hợp đồng đã ký theo qui định cuûa pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại. Được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo hộ về lãnh sự, tư pháp.
  5. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại, tôn trọng phong tục, tập quán và có quan hệ tốt với nhân dân nước sở tại. Chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của Nhà nước về quản lý công  dân Việt Nam ở nước ngoài.
  6. Nộp phí dịch vụ XKLĐ cho doanh nghiệp XKLĐ

Không quá một tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc. Riêng đối với sĩ quan và thuyền viên làm việc trên tàu vận tải biển không quá 1,5 tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc.

  1. Nộp tiền đặt cọc (nếu có) và thực hiện thoả thuận ký quỹ hoặc là bảo lãnh cho doanh nghiệp XKLĐ để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài.
  2. Nộp thuế thu nhập theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.
  3. Tham gia chế độ bảo hiểm xã hội theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
  4. Được chuyển về nước thu nhập bằng ngoại tệ và thiết bị, nguyên liệu theo qui định của pháp luật Việt Nam.
  5. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những vi phạm của doanh nghiệp XKLĐ, khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại về những vi phạm của người sử dụng lao động.
  6. Bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp XKLĐ và bị xử lý do vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật
  7. Được bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp XKLĐ vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật.

a2) Quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc cho doanh nghiệp nhận thầu, nhận khoán công trình, doanh nghiệp đầu tư ở nước ngoài

1. Được cung cấp các thông tin về chính sách, pháp luật về  XKLĐ, các thông tin về tiêu chuẩn và điều kiện tuyển dụng, thời hạn hợp đồng, loại công việc sẽ làm và nơi làm việc, điều kiện làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền làm thêm giờ, phụ cấp khác (nếu có), chế độ bảo hiểm và những thông tin cần thiết khác theo hợp đồng cung ứng  lao động.

  1. Được đào tạo, giáo dục, định hướng và cấp chứng chỉ, đóng học phí theo qui định của pháp luật.
  2. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp XKLĐ, ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước ngoài, thực hiện đúng các hợp đồng  đã ký, và nội qui nơi ở, nơi làm việc. Không được tự ý bỏ hợp đồng hoặc tổ chức, lôi kéo người khác bỏ hợp đồng lao động
  3. Được bảo đảm các quyền lợi trong hợp đồng đã ký theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại. Được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo hộ về lãnh sự, tư pháp.
  4. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại, tôn trọng phong tục tập quán và có quan hệ tốt với nhân dân nước sở tại. Chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của Nhà nước về quản lý công dân Việt Nam ở nước ngoài.
  5. Nộp thuế thu nhập theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại
  6. Tham gia chế độ bảo hiểm xã hội theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam
  7. Được chuyển về nước thu nhập bằng ngoại tệ và thiết bị, nguyên liệu theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam
  8. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những vi phạm của doanh nghiệp XKLĐ, khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại về những vi phạm của người sử dụng lao động.
  9. Bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp XKLĐ và bị xử lý do vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật
  10. Được bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp XKLĐ vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật. a3) Quyền và nghĩa vụ của người lao động trực tiếp ký hợp đồng với người sử dụng lao động nước ngoài
  11. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp XKLĐ, ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước ngoài, thực hiện đúng các hợp đồng đã ký và nội qui nơi ở, nơi làm việc, không được tự ý bỏ hợp đồng hoặc tổ chức, lôi kéo người khác bỏ hợp đồng lao động.
  12. Được bảo đảm các quyền lợi trong hợp đồng đã ký theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại. Được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo hộ về lãnh sự, tư pháp.
  13. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại, tôn trọng phong tục tập quán và có quan hệ tốt với nhân dân nước sở tại. Chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của Nhà nước về quản lý công dân Việt Nam ở nước ngoài.
  14. Nộp phí dịch vụ XKLĐ cho doanh nghiệp XKLĐ:

Không quá một tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc. Riêng đối với sĩ quan và thuyền viên làm việc trên tàu vận tải biển không quá 1,5 tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc.

  1. Nộp tiền đặt cọc (nếu có) và thực hiện thoả thuận ký quỹ hoặc là bảo lãnh cho doanh nghiệp XKLĐ để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài.
  2. Nộp thuế thu nhập theo qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.
  3. Tham gia chế độ bảo hiểm xã hội theo qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
  4. Được chuyển về nước thu nhập bằng ngoại tệ và thiết bị, nguyên liệu theo qui định của pháp luật Việt Nam.
  5. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những vi phạm của doanh nghiệp XKLĐ, khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại về những vi phạm của người sử dụng lao động.

 

b) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động

b1) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài

1. Chủ động khảo sát thị trường lao động, trực tiếp ký kết và thực hiện hợp đồng cung ứng lao động với nước ngoài theo đúng qui định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước tiếp nhận lao động. Đối với các nghề đặc thù và các thị trường mới thì thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Doanh nghiệp được Nhà nước tạo các điều kiện thuận lợi trong việc khảo sát, phát triển thị trường, dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động và bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ XKLĐ. 2. Đăng ký hợp đồng XKLĐ theo qui định.

  1. Công bố, công khai các tiêu chuẩn điều kiện tuyển chọn quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
  2. Phối hợp chặt chẽ với địa phương, cơ sở sản xuất, cơ sở đào tạo  nguồn lao động xuất khẩu và trực tiếp tuyển chọn lao động, ưu tiên tuyển chọn người thuộc diện chính sách, người nghèo, không được thu phí tuyển chọn của người lao động.

Sau sáu tháng, kể từ ngày trúng tuyển mà doanh nghiệp chưa đưa được người lao động đi nước ngoài làm việc thì phải thông báo rõ lý do cho người lao động, nếu người lao động không còn nhu cầu hoặc doanh nghiệp không thực hiện được hợp đồng thì phải thanh toán lại đầy đủ các khoản mà người lao động đã nộp cho doanh nghiệp.

  1. Tổ chức đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo qui định của pháp luật.
  2. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với người lao động, tổ chức đưa người lao động đi và về nước, thanh lý hợp đồng đã ký theo qui định của pháp luật
  3. Thu, nộp các khoản sau đây:
  4. Thu phí dịch vụ XKLĐ của người lao động, nộp tiền vào quỹ hỗ trợ XKLĐ theo qui định.

Thu và nộp toàn bộ số tiền cọc (nếu có) đã thu của người lao động theo quy định tài khoản 7 điều 18 Nghị định này vào tài khoản của doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Nhà nước trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thu tiền đặt cọc của người lao động, thanh toán đầy đủ tiền đặt cọc và lãi tiền gửi cho người lao động khi hoàn thành hợp đồng đã kí với doanh nghiệp.

Trong trường hợp xét thấy tiền đặt cọc theo qui định không đủ để thực hiện việc bồi thường, doanh nghiệp có thể thoả thuận với người lao động về biện pháp ký quỹ hoặc bảo lãnh để bảo đảm  thực hiện nghĩa vụ của người lao động theo hợp đồng ký kết với doanh nghiệp và người sử dụng lao động nước ngoài. Việc giao kết và thoả thuận ký quỹ, bảo lãnh tuân theo các qui định của Bộ luật dân sự.

  1. Thu tiền bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập (nếu có) của người lao động để nộp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội cơ quan thuế cấp tỉnh: Bảo quản và xác nhận vào sổ Bảo hiểm xã hội của người lao động.
  2. Có trách nhiệm theo dõi, quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài. Tuỳ thuộc vào thị trường lao động nước ngoài, doanh nghiệp phải có cán bộ quản lý lao động. Trong trường hợp người lao động bị tai nạn, bị bệnh nghề nghiệp, chết, doanh nghiệp phải phối hợp với các bên liên quan kịp thời xác định nguyên nhân và giải quyết chế độ cho người lao động.
  3. Bồi thường hoặc yêu cầu đối tác nước ngoaì bồi thường thiệt hại cho người lao động về những thiệt hại do doanh nghiệp hoặc đối tác nước ngoài gây ra theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.
  4. Khởi kiện tại Toà án nhân dân đòi bồi thường thiệt hại do người lao động vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật.
  5. Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ.
  6. Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất theo qui định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
  7. Được giao nhiệm vụ xuất khẩu lao động cho không quá hai đơn vị trực thuộc có trụ sở trên địa bàn tỉnh (thành phố) khác nhau và phải báo cáo với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

 

b2) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt Nam

  1. Công bố công khai các  tiêu chuẩn điều kiện tuyển chọn quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
  2. Tổ chức đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo qui định của pháp luật.
  3. Ký hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài với người lao động: tổ chức đưa người lao động đi và về nước, thanh lý hợp đồng đã ký theo qui định của pháp luật
  4. Có trách nhiệm theo dõi, quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài. Tuỳ thuộc vào thị trường lao động nước ngoài, doanh nghiệp phải có cán bộ quản lý lao động. Trong trường hợp người lao động bị tai nạn, bị bệnh nghề nghiệp, chết, doanh nghiệp phải phối hợp với các bên liên quan kịp thời xác định nguyên nhân và giải quyết chế độ cho người lao động.
  5. Bồi thường hoặc yêu cầu đối tác nước ngoài bồi thường thiệt hại cho người lao động về những thiệt hại do doanh nghiệp hoặc đối tác nước ngoài gây ra theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.
  6. Khởi kiện tại Toà án nhân dân đòi bồi thường thiệt hại do người lao động vi phạm hợp đồng theo qui định của pháp luật.
  7. Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ.
  8. Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất theo qui định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

3. Trách nhiệm của Nhà nước về xuất khẩu lao động

a) Trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

1. Phối hợp với cơ quan liên quan nghiên cứu phát triển thị trường, xây dựng chiến lược, kế hoạch qui hoạch về XKLĐ và chỉ đạo thực hiện  2. Nghiên cứu xây dựng văn bản qui phạm pháp luật, chính sách, cơ chế xuất khẩu lao động trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền, hướng dẫn và tổ chức thực hiện

  1. Đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo uỷ quyền.
  2. Qui định hồ sơ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Danh mục các nghề và công việc cấm, các khu vực cấm lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.
  3. Xây dựng và hướng dẫn thực hiện kế hoạch đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, qui định chương trình đào tạo, giáo dục, định hướng cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, bồi dưỡng cán bộ doanh nghiệp XKLĐ, cán bộ quản lý lao động ở nước ngoài.
  4. Cấp giấy phép; đình chỉ có thời hạn hoạt động XKLĐ; đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động XKLĐ.
  5. Tiếp nhận đăng ký hợp đồng và quản lý hợp đồng của các doanh nghiệp, tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng theo qui định.
  6. Thanh tra, kiểm tra các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp có liên quan đến việc thực hiện đưa người lao động Việt Nam  đi làm việc ở nước ngoài.
  7. Phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của các tổ chức như: Mặt trận TQVN, Tổng Liên đoàn LĐVN, Hội Liên hiệp PNVN, Đoàn Thanh niên CSHCM, Hội Cựu chiến binh VN, Hội nông dân VN, Liên minh HTX VN và doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp VN và UBND cấp tỉnh có liên quan giải quyết các vấn đề phát sinh trong việc quản lý người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, phối hợp với Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ tổ chức ban quản lý lao động thuộc cơ quan đại diện Việt Nam ở những nước và khu vực có nhiều lao động Việt Nam phù hợp với pháp lệnh về cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.
  8. Hàng năm báo cáo Thủ Tướng Chính phủ về tình hình lao động Việt Nam làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

b)  Trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan

  1. Bộ Ngoại giao chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt nam ở nước ngoài phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý Nhà nước đối với lao động Việt Nam ở nước ngoài, cung cấp kịp thời cho Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành chức năng thông tin về thị trường lao động nước ngoài và tình hình người lao động Việt Nam ở nước sở tại.
  2. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội  qui định chi tiết về việc thu và sử dụng, quản lý quỹ hổ trợ xuất khẩu lao động, phí môi giới trong XKLĐ (phí tư vấn khai thác hợp đồng), mức và thể thức quản lý tiền đặt cọc của ngưôøi lao động.
  3. Bộ Công an cấp hộ chiếu cho người lao động theo qui định của pháp luật và trong phạm vi trách nhiệm của mình phối hợp với Bộ Lao độngThương binh và Xã hội trong việc phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoạt động XKLĐ.
  4. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính qui định thống nhất mức phí kiểm tra sức khoẻ cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chỉ đạo các cơ sở y tế  tổ chức kiểm tra sức khoẻ và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra sức khoẻ cho người lao động.
  5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội xây dựng kế hoạch XKLĐ hàng năm và 5 năm.
  6. Bộ Thương mại và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam  nghiên cứu trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chính sách tạo điều kiện để người lao động và doanh nghiệp XKLĐ  thực hiện các quyền qui định tại khoản 10 điều 18 nghị định này. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc ký quỹ hoạt động xuất khẩu lao động theo qui định.
  7. Bộ Văn hoá – Thông tin phối hợp với các cơ quan liên quan định hướng và chỉ đạo các cơ quan thông tin ñại chúng trong việc thông tin, tuyên truyền phục vụ chiến lược XKLĐ của Đảng và Nhà nước, xử lý kịp thời và nghiêm minh những trường hợp đưa tin thiếu khách quan, thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến hoạt động XKLĐ.
  8. Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao thực hiện nội dung qui định về xuất khẩu lao động.

 

c) Mặt trận TQVN, Tổng Liên đoàn LĐVN, Hội Liên hiệp PNVN, Đoàn Thanh niên CSHCM, Hội Cựu chiến binh VN, Hội nông dân VN, Liên minh HTX VN và doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp VN và UBND cấp tỉnh có doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc  nước ngoài có trách nhiệm:

  1. Thực hiện quản lý hoạt động  XKLĐ đối với các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý.
  2. Chỉ đạo các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo qui định và bảo đảm và tạo điều kiện cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
  3. Thanh tra, kiểm tra hoạt động XKLĐ tại các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động XKLĐ.
  4. Hàng năm đánh giá hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý và báo cáo Bộ Lao động – Thương binh và  Xã hội để tổng hợp báo cáo Chính phủ.

d) Trách nhiệm của UBND cấp tỉnh

  1. Thực hiện quản lý Nhà nước về XKLĐ trong phạm vi địa phương
  2. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc và UBND cấp dưới:
  3. Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách về XKLĐ
  4. Tạo nguồn và giới thiệu người lao động có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành tốt các qui định của pháp luật để tham gia dự tuyển đi làm việc ở nước ngoài.
  5. Phối hợp với các doanh nghiệp hoạt động XKLĐ tuyển lao động tại địa phương. Xác định trách nhiệm của gia đình người lao động để lao động thực hiện  tốt qui định và nghĩa vụ được qui định  trong  hợp đồng đã ký với doanh nghiệp và hợp đồng lao động làm việc tại nước ngoài.
  6. Thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất khẩu lao động tại địa phương phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động XKLĐ.

4.Tuyển chọn, giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

a) Tuyển chọn

 Tuyển chọn lao động là khâu hết sức quan trọng, bảo đảm cho doanh nghiệp thực hiện được hợp đồng cung ứng lao động hoặc hợp đồng sản xuất kinh doanh ở nước ngoài.

Việc tuyển chọn lao động, trước hết phải xuất phát từ yêu cầu thực hiện hợp đồng  với bên nước ngoài. Việc ký kết hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam, do đó, việc tuyển chọn lao động cũng phải tuân theo các qui định của pháp luật Việt Nam. Pháp luật lao động có các qui định cụ thể về đối tượng, nguyên tắc tuyển chọn, trình tự thủ tục tuyển chọn và bao gồm cả quá trình chuẩn bị về mọi mặt cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, các qui định đó là nhằm để thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết trong hợp đồng bảo đảm chất lượng của hoạt động XKLĐ.

a1) Nguyên tắc tuyển chọn

Việc tuyển chọn chỉ được tiến hành sau 3 ngày đối với doanh nghiệp có giấy phép hoạt động chuyên doanh và 7 ngày đối với doanh nghiệp không chuyên doanh kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký hợp đồng của doanh nghiệp. Nếu chưa có thông báo của  các Cục Quản lý Lao động với nước ngoài thì không được phép tuyển chọn.

Nếu tuyển lao động thuộc các đơn vị địa phương khác thì doanh nghiệp phải xuất trình giấy phép được hoạt động trong lĩnh vực này.

Doanh nghiệp dành khoảng 10 % số lượng lao động theo hợp đồng đã ký để tuyển chọn con liệt sĩ, thương binh, con gia đình có công với cách mạng, bộ đội, thanh niên xung phong đã hoàn thành nghĩa vụ.

Không được đưa những người đi nước ngoài làm việc trong những nghề, những khu vực cấm.

a2) Đối tượng và nguồn tuyển chọn

Thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trong các đơn vị quân đội, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện tham gia các chương trình dự án ở những nơi khó khăn (biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa) đã hoàn thành nghĩa vụ.

Lao động đang làm việc ở các công ty, xí nghiệp có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài.

Học sinh tốt nghiệp các trường đào tạo

Lao động chưa có việc làm ở xã, phường, thị trấn, trong đó ưu tiên tuyển chọn con em các gia đình chính sách, lao động thiếu việc làm ở nông thôn.

a3) Thủ tục tuyển chọn

Các doanh nghiệp XKLĐ và chuyên gia khi có nhu cầu tuyển lao động thì căn cứ ngành, nghề tiêu chuẩn, có công văn đề nghị các đơn vị cơ sở sau đây để tuyển chọn:

Các đơn vị quân đội, công an, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện tập trung có cán bộ, chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ.

Các doanh nghiệp, xí nghiệp sản xuất

Các trường, trung tâm đào tạo

UBND các xã, phường, thị trấn

Khi tuyển chọn lao động, doanh nghiệp phải xuất trình giấy phép hoạt động chuyên doanh, đăng ký hợp đồng, kế hoạch, tiêu chuẩn tuyển chọn, cơ cấu ngành, nghề, giới tính, số lượng dự tuyển và số lượng tuyển chính thức với Sở Lao động- Thương binh và Xã hội để thông báo bằng văn bản cho các cơ sở đơn vị trên địa bàn có nguồn lao động đáp ứng yêu cầu tuyển chọn.

Doanh nghiệp trực tiếp tuyển chọn lao động trong số những người đăng ký dự tuyển theo kế hoạch đã thống nhất với cơ sở cung cấp lao động.

a4) Qui trình tuyển chọn

Trước khi tuyển chọn, doanh nghiệp hoạt động XKLĐ phải thông báo công khai tại trụ sở địa phương, địa bàn tuyển chọn các yêu cầu về giới tính, tuổi đời, công việc mà người lao động phải đảm nhiệm, nơi làm việc và thời hạn của hợp đồng, điều kiện làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền đặt cọc, tiền công, các khoản và mức phải đóng góp, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động.

Doanh nghiệp trực tiếp tuyển chọn lao động chậm nhất sau 5 ngày kể từ ngày người lao động dự tuyển, doanh nghiệp phải thông báo công khai kết quả cho người lao động. Sau khi người lao động trúng tuyển, doanh nghiệp phải thông báo thời gian dự kiến đưa đi, nếu chậm phải thông báo rõ lý do cho người lao động.

Sau 6 tháng kể  từ ngày trúng tuyển, doanh nghiệp chưa đưa người lao động đi được thì phải thông báo rõ lý do cho người lao động biết.

Doanh nghiệp ký hợp đồng với bệnh viện do ngành y tế qui định để khám sức khoẻ cho người lao động. Doanh nghiệp chỉ được tuyển chọn những người có đủ sức khoẻ theo kết luận của bệnh viện

Doanh nghiệp có thể tuyển những người đã có nghề hoặc thông qua các trường đào tạo hoặc chủ động tổ chức đào tạo nghề và ngoại ngữ phù hợp với số lượng và cơ cấu ngành nghề theo kế hoạch đưa lao động đi hàng năm, không được tổ chức đào tạo tràn lan, gây tốn kém đối với người lao động. Khi chuẩn bị nguồn lao động và đào tạo, doanh nghiệp phải thông báo rõ cho người lao động về điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn các khoản mà người lao động phải đóng trong đào tạo, thi tuyển và phải ký hợp đồng đào tạo với người lao động theo học.

             Hồ sơ tuyển chọn gồm có:

–         Đơn tự nguyện đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài có cam kết của bản thân và gia đình.

–         Sơ yếu lý lịch có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc cơ quan, đơn vị nơi quản lý nhân sự.

–         Giấy chứng nhận sức khoẻ có kết luận của bệnh viện do ngành y tế qui định.

–         Các  giấy tờ cần thiết khác theo yêu cầu của bên nước ngoài

b) Đào tạo và giáo dục định hướng              

b1) Nội dung đào tạo

Học ngoại ngữ: Người lao động phải đạt yêu cầu về ngoại ngữ do Cục Quản lý Lao động ngoài nước qui định, đối với chuyên gia do nước tiếp nhận lao động qui định.

Đào tạo, bổ túc kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề cho người lao động trong trường hợp cần thiết để có đủ điều kiện thực hiện hợp đồng.

b2) Giáo dục định hướng

  • Nội dung hợp đồng doanh nghiệp ký với doanh nghiệp nước ngoài, hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp sẽ ký với người lao động, hợp đồng lao động người sử dụng lao động sẽ ký với người lao động, quyền lợi. nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động trong việc thực hiện các điều khoản đã ghi trong hợp đồng.
  • Những hiểu biết cơ bản về pháp luật lao động, hình sự, dân sự, xuất nhập cảnh của Việt Nam, pháp luật của nước nhận lao động, nghĩa vụ chấp hành và tuân thủ pháp luật và các qui định hiện hành của Nhà nước về lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.
  • Phong tục, tập quán, tôn giáo và sinh hoạt của nước nhận lao động, kinh nghiệm giao tiếp, quan hệ ứng xử với người sử dụng lao động và những người lao động  khác tại nơi làm việc.
  • Kỷ luật và tác phong lao động công nghiệp, những qui định, qui phạm về an toàn, vệ sinh lao động.

b3) Chương trình và tài liệu

Cục Quản lý Lao động ngoài nước qui định chương trình và phát hành tài liệu giáo dục, định hướng đối với người lao động.

Chương trình và tài liệu đối với chuyên gia theo qui định của Bộ   quản lý chuyên ngành.

 Chương trình và tài liệu đối với sĩ quan, thuỷ thủ làm việc trên tàu vận tải biển theo qui định của Bộ giao thông vận tải

*    Kiểm tra và cấp chứng chỉ

Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả và cấp chứng chỉ đào tạo giáo dục định hướng cho những người đạt yêu cầu do cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm.

*    Trách nhiệm của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động đã được tuyển chọn tại cơ sở đào tạo – giáo dục định hướng của doanh nghiệp theo qui chế của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội.

5. Giải quyết tranh chấp về xuất khẩu lao động

Tranh chấp trong xuất khẩu lao động là một loại tranh chấp khá phức tạp. Sự phức tạp của các tranh chấp này thể hiện ở chỗ: Quan hệ tranh chấp có liên quan đến nhiều bên, gồm bên sử dụng lao động nước ngoài, bên doanh nghiệp cung ứng lao động của Việt Nam và người lao động Việt Nam và trong các mối quan hệ khác nhau như quan hệ về cung ứng lao động giữa doanh nghiệp chuyên doanh XKLĐ Việt Nam với đơn vị sử dụng lao động nước ngoài, quan hệ (dịch vụ) về đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giữa người lao động Việt Nam với doanh nghiệp XKLĐ Việt nam, quan hệ về sử dụng lao động giữa người lao động Việt nam với người sử dụng lao động nước ngoài.

Với mối quan hệ phức tạp giữa các chủ thể trong quan hệ xuất khẩu lao động, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần phải đưa ra nguyên tắc giải quyết tranh chấp, pháp luật giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tạo nên một thị trường XKLĐ hữu nghị, hợp tác, hai bên cùng có lợi.

a)  Nguyên tắc giải quyết tranh chấp

Thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa các bên tranh chấp một cách khách quan và kịp thời.

Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng các quyền và lợi ích của các bên, tôn trọng lợi ích chung của xã hội tuân theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.

Doanh nghiệp có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động XKLĐ của doanh nghiệp mình. Trường hợp tranh chấp phức tạp, ảnh hưởng đến quan hệ lao động giữa hai nước phải báo cáo kịp thời, đầy đủ và trình phương án giải quyết với cơ quan quản lý doanh nghiệp và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội..

b)  Pháp luật giải quyết tranh chấp 

Tranh chấp giữa người lao động Việt nam và doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài đã ký giữa hai bên và qui định của pháp luật Việt Nam.

Tranh chấp giữa người lao dộng Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài được giải quyết  trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa hai bên và qui định của pháp luật nước nhận lao động.

Tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài không trực tiếp sử dụng lao động được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký giữa hai bên.

Trường hợp hợp đồng không qui định pháp luật áp dụng thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động.

Tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt nam và người sử dụng lao động nước ngoài được giải qyết trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa hai bên (nếu có), hợp đồng khác có liên  quan. Trường hợp hợp đồng không qui định pháp luật áp dụng thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động.

Tranh chấp hợp đồng liên quan đến nhiều bên được giải quyết tuân theo pháp luật do các bên thoả thuận, lựa chọn : Nếu không thoả thuận được thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động.

c)   Thẩm quyền giải quyết tranh chấp 

Những tranh chấp về xuất khẩu lao động liên quan đến pháp luật Việt nam được giải quyết theo hướng dẫn liên tịch của Bộ Tư pháp, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Viện Kiểm soát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao.

d)  Giải quyết khiếu nại, tố cáo về XKLĐ 

Khiếu nại của người lao động, doanh nghiệp hoạt động XKLĐ do cục trưởng Cục Quản lý Lao động nước ngoài thuộc Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xem xét, kết luận và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội biện pháp giải quyết, tố cáo về XKLĐ do Thứ trưởng cơ quan thanh tra thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội xem xét, kết luận và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội biện pháp giải quyết.

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại tố cáo thì người lao động, doanh nghiệp hoạt động XKLĐ có quyền khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hoặc khởi kiện ra toà hành chính theo qui định của pháp luật.

So với nghị định 81/2003 thì Nghị định số 152: Các điều 23. 24 chỉ qui định chung về việc khen thưởng và xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động XKLĐ mà chưa có qui định vấn đề giải quyết tranh chấp và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực này. Vì thế, khi có tranh chấp xảy ra thì các cơ quan chức năng lúng túng và bị động trong khâu giải quyết. Nhiều vụ khiếu nại, tố cáo (về việc sử dụng lao động nước ngoài vi phạm nghiêm trọng quyền lợi, nhân phẩm người lao động, về tiền đặt cọc, bồi thường…) không được giải quyết triệt để làm cho người lao động và gia đình họ bị thiệt hại nặng nề về kinh tế, nguyên nhân là do chúng ta chưa có cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng và hợp lý.