Chi phí cổ phần thường

Khi ban lãnh đạo công ty muốn tăng vốn cổ phần thường, họ có thể hành động theo 2 cách: Thứ nhất, họ có thể giữ lại và tái đầu tư một phần hay toàn bộ lợi nhuận ròng của công ty. Thứ hai là phát hành cổ phần mới.

Có thể khái quát rằng, không có sự khác biệt giữa hai cách hành động này về chi phí tăng vốn cổ phần ngoại trừ việc phát hành cổ phần thường bao hàm cả chi phí phát hành dẫn tới chi tiều hơn so với sử dụng lợi nhuận giữ lại. Để phân biệt hai loại chi phí, chúng ta sử dụng ký hiệu ke để chỉ chi phí tăng vốn cổ phần bằng lợi nhuận giữ lại và kne để chỉ chi phí huy động vốn cổ phận bằng phát hành cổ phiếu.

 

-Chi phí của lợi nhuận giữ lại (ke)

Mặc dù có thể coi lợi nhuận giữ lại 1 nguồn ngân quỹ miễn phí vì lẽ không phải huy động chúng bên ngoài doanh nghiệp, nhưng điều đó không hẳn là hoàn toàn đúng. Chi phí của lợi nhuận giữ lại được đo lường bằng chi phí cơ hội, tức là nếu những lợi nhuận này được chia, thì cổ đông có thể đầu tư và thu lợi nhuận từ bên ngoài doanh nghiệp. Bởi vậy có thể coi những lợi nhuận này là chi phí cơ hội của công ty. Do đặc điểm này nên chi phí của lợi nhuận giữ lại rất khó xác định trong thực tế, do đó chúng ta thường sử dụng một số phương pháp đánh giá xen kẽ nhau mặc dù mục đích đều nhằm đánh giá cùng loại chi phí (ke).

Quá trình này đem lại 1 sự đánh giá xác thực hơn là thực hiện bằng sử dụng 1 phương pháp riêng rẽ. Bốn quy trình để đánh giá chi phí của lợi nhuận giữ lại dựa trên các phương pháp sau:

+Mô hình tăng trưởng không đổi hoặc mô hình tăng trưởng giảm dần.

+Mô hình đánh giá tích sản vốn đầu tư (CAPM)

+So sánh chi phí của vốn cổ phần và chi phí của nợ vay

+Sử dụng tỷ lệ sinh lời trong quá khứ trên vốn cổ phần

-Chi phí của vốn cổ phần mới (kne)

Khi độ lớn của khoản đầu tư mới vượt qua tiềm năng của các nguồn tài trợ nội bộ, doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn từ các nguồn bên ngoài. Việc bán các loại cổ phần mới sẽ làm phát sinh loại chi phí phát hành và những chi phí này không được coi là bộ phận của chi phí ước tính của lợi nhuận giữ lại. Bởi vậy, những chi phí liên quan đến phát hành cổ phần mới có ý nghĩa rất quan trọng.

Nếu ký hiệu F là chi phí phát hành và po là giá bán của cổ phần mới thì vốn thuần mà công ty nhận được là po (1 – F). Nếu mỗi cổ phần mới phát hành được bán với giá 20000 VNĐ và chi phí phát hành là 6% thì phần vốn công ty nhận được là  20.000 (1 – 0,6) = 18.800  VNĐ cho mỗi cổ phần.

-Khi áp dụng mô hình tăng trưởng không đổi và đưa những chi phí thả nổi vào suy xét, đòi hỏi chúng ta phải sử dụng khoản tiền nhận được thuần (po(1 – F)), chứ không phải là sử dụng giá bán cổ phần mới (po). Do đó chi phí của vốn cổ phần mới được tính theo công thức sau:

                    d1

Kne = —————– + G

                pₒ (1 – F)