Chính sách chống bán phá giá là gì?

Trong bối cảnh thương mại quốc tế, bán phá giá được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau như là việc bán hàng hóa tại thị trường nước ngoài tại mức giá dưới mức chi phí sản xuất hoặc dưới mức giá “hợp lý” của thị trường. Có sự khác biệt giữa hai định nghĩa này: mức giá “hợp lý” của thị trường của một hàng hóa thường được cho là lớn hơn mức chi phí sản xuất của hàng hóa đó vì bao gồm cả một mức lợi nhuận “hợp lý”. Bán phá giá được xem là một cách để các công ty giải tỏa khả năng sản xuất dư thừa tại thị trường nước ngoài. Một số hành động bán phá giá được coi là hành vi bán phá giá tấn công (predatory behavior) khi các nhà sản xuất sử dụng phần lớn lợi nhuận thu được từ thị trường nội địa để trợ cấp cho việc giảm giá bán tại thị trường nước ngoài nhằm mục đích loại bỏ các đối thủ cạnh tranh bản địa khỏi thị trường. Và khi đạt được mục đích này rồi, công ty bán phá giá tấn công sẽ lại tăng giá lên và thu về lợi nhuận đáng kể.

Các chính sách chống bán phá giá được xây dựng để trừng phạt những công ty nước ngoài liên quan tới hành động này. Mục tiêu duy nhất là nhằm bảo vệ các nhà sản xuất nội địa khỏi sự cạnh tranh bất bình đẳng từ các công ty nước ngoài. Mặc dù các chính sách chống bán phá giá là khác nhau giữa các nước, nhưng phần lớn đều tương tự với những chính sách được sử dụng tại nước Hoa Kỳ. Nếu như một công ty nội địa tin rằng một công ty nước ngoài đang bán phá giá trên thị trường Hoa Kỳ, công ty đó có thể đệ đơn kiện lên  hai cơ quan chính phủ là Bộ Thương mại và Ủy ban thương mại quốc tế. Hai cơ quan này sẽ tiến hành điều tra vụ việc và nếu như những gì được kiện lên là đúng, Bộ Thương mại có thể sẽ áp đặt một mức thuế chống bán phá giá lên hàng nhập khẩu vi phạm của phía nước ngoài. Những loại thuế quan đặc biệt này có thể khá cao và kéo dài tới tận 5 năm.