Chính sách của chính phủ nước chủ đầu tư

CHÍNH SÁCH CỦA NƯỚC CHỦ ĐẦU TƯ

Bằng việc lựa chọn các chính sách, các nước chủ đầu tư có thể khuyến khích hay hạn chế FDI của các công ty trong nước. Chúng ta sẽ tìm hiểu các chính sách để khuyến khích FDI ra nước ngoài trước tiên, những chính sách này bao gồm bảo hiểm rủi ro ở nước ngoài, hỗ trợ vốn, ưu đãi thuế, và các áp lực chính trị. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét những chính sách nhằm hạn chế FDI ra nước ngoài.

Khuyến khích FDI ra

Nhiều quốc gia chủ đầu tư có những chương trình bảo hiểm do chính phủ tài trợ nhằm bảo hiểm cho những loại rủi ro chính khi đầu tư ra nước ngoài. Các rủi ro có thể được bảo hiểm qua những chương trình ngày bao gồm: bị trưng thu (quốc hữu hóa) tài sản, rủi ro chiến tranh, và việc không chuyển được lợi nhuận về công ty mẹ. Những chương trình này đặc biệt hữu ích trong việc khuyến khích các công ty đầu tư vào những nước bất ổn về chính trị.25  Hơn nữa, một số nước phát triển còn có những quỹ hoặc ngân hàng đặc biệt cung cấp tín dụng cho các công ty muốn đầu tư sang các nước đang phát triển. Để khuyến khích FDI, nhiều nước còn xóa bỏ việc đánh thuế hai lần đối với thu nhập được tạo ra ở nước ngoài (nghĩa là thuế đánh vào thu nhập ở cả nước nhận đầu tư

và nước chủ đầu tư). Cuối cùng và quan trọng nhất, nhiều nước chủ đầu tư (trong đó có Mỹ), đã dùng ảnh hưởng chính trị để thuyết phục các nước nhận đầu tư nới lỏng những hạn chế đối với FDI vào. Ví dụ, trước sức ép trực tiếp của Hoa Kỳ, Nhật đã nới lỏng những hạn chế chính thức đối với FDI vào trong những năm 1980. Giờ đây, trước sức ép lại càng tăng từ Hoa Kỳ, Nhật đã tiến thêm một bước nới lỏng cả các rào cản phi chính thức đối với FDI vào. Một trong số các công ty hưởng lợi từ xu thế này là Toys “R” Us. Sau 5 năm tích cực vận động hành lang của công ty và của các quan chức Hoa Kỳ, công ty đã mở cửa hàng bán lẻ đầu tiên ở Nhật vào tháng 12 năm 1991. Đến năm 2000, Toys “R” Us đã có hơn 150 cửa hàng ở Nhật, và công ty con ở Nhật, nơi công ty nằm phần vốn chi phối, đã được niêm yết trên thị trường cổ phiếu Nhật.

Hạn chế FDI ra

Hầu hết các nước chủ đầu tư, trong đó có Hoa Kỳ, đều có đôi lúc thực hiện kiểm soát ở mức độ nhất định hoạt động FDI ra. Một chính sách phổ biến là giới hạn dòng vốn chảy ra nước ngoài vì những lo ngại về cán cân thanh toán. Từ đầu những năm 1960 đến năm 1979, Anh đã thực hiện những quy định quản lý ngoại hối giới hạn số vốn mà một công ty có thể chuyển ra khỏi nước mình. Mặc dù mục tiêu chính của những chính sách đó là nhằm cải thiện cán cân thanh toán của Anh, mục tiêu quan trọng thứ hai chính là khiến các công ty Anh khó khăn hơn khi thực hiện FDI.

Thêm vào đó, các quốc gia cũng có khi sử dụng thuế để cố khuyến khích các công ty trong nước đầu tư ở thị trường nội địa. Mục tiêu ẩn sau những chính sách này là tạo ra việc làm cho trong nước, thay vì ở các nước khác. Chính sách này từng được Anh sử dụng, theo đó hệ thống thuế doanh nghiệp tiên tiến của nước này áp mức thuế suất đối với phần thu nhập từ nước ngoài của các công ty Anh cao hơn đối với thu nhập từ nội địa. Luật thuế đó đã khuyến khích các công ty Anh đầu tư trong nước.

Cuối cùng, các nước đôi khi ngăn cấm các công ty trong nước đầu tư vào một số quốc gia nhất định vì lý do chính trị. Những hạn chế này có thể là chính thức hoặc phi chính thức. Ví dụ, có những quy định chính thức cấm các công ty Hoa Kỳ đầu tư vào những nước như Cuba và Iran, những nước mà hệ tư tưởng và hoạt động chính trị bị coi là đi ngược lại quyền lợi của Hoa Kỳ. Tương tự, trong những năm 1980, các áp lực không chính thức  cũng được khai thác để ngăn các công ty Hoa Kỳ đầu tư vào Nam Phi. Trong trường hợp này, mục tiêu là  nhằm để gây sức ép buộc Nam Phi thay đổi hệ thống pháp luật phân biệt chủng tộc, và sự thay đổi này đã diễn ra vào đầu những năm

1990.