Chính sách của chính phủ nước nhận đầu tư

 

Các nước nhận đầu tư áp dụng chính sách được thiết kế để vừa hạn chế vừa khuyến khích FDI vào trong nước. Như phần đầu chương này đã chỉ ra, trước kia, hệ tư tưởng chính trị quyết định loại hình và phạm vi của các chính sách này. Đến thập niên cuối của thế kỷ XX, nhiều nước đã nhanh chóng thoát khỏi việc cứ gắn chặt với một quan điểm cực đoan, ngăn cấm phần lớn FDI, và hướng đến việc kết hợp các mục tiêu thị trường tự do với chủ nghĩa dân tộc thực dụng.

Khuyến khích FDI vào

Việc các chính phủ đưa ra những ưu đãi thu hút đầu tư các công ty nước ngoài đã trở nên ngày càng phổ biến. Những ưu đãi đó thể hiện dưới nhiều hình thức, nhưng hay gặp nhất là các ưu đãi thuế, cho vay lãi suất thấp, và trợ cấp. Động cơ của các ưu đãi này là mong muốn giành lấy FDI từ các nước cạnh tranh thu hút  đầu  tư tiềm năng khác. Ví dụ, trong những năm 1990, chính phủ Anh và Pháp đã cạnh tranh nhau để đưa ra các ưu đãi cho Toyota đầu tư vào nước họ. Ở Hoa Kỳ, chính phủ các bang cũng cạnh tranh nhau nhằm thu hút FDI. Kentucky đưa ra gói ưu đãi trị giá 112 triệu USD nhằm thuyết phục Toyota xây dựng một nhà máy lắp ráp ô tô ở đó. Gói ưu đãi này bao gồm giảm thuế, đầu tư của bang vào cơ sở hạ tầng, và các khoản tín dụng với lãi suất thấp.

Hạn chế FDI vào

Chính phủ các nước nhận đầu tư sử dụng một hệ thống đa dạng các biện pháp kiểm soát nhằm hạn chế FDI theo cách này hay cách khác. Hai cách phổ biến nhất là hạn chế quyền sở hữu và các yêu cầu về hoạt động. Hạn chế quyền sở hữu có thể thể hiện dưới nhiều hình thức. Ở một số nước, các công ty nước ngoài không được đầu tư vào những lĩnh vực nhất định. Ví dụ, ở Thụy Điển đó là ngành thuốc lá và khai khoáng, ở Braxin, Phần Lan và Marốc là một số ngành khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhất định. Trong những ngành khác, quyền sở hữu của nước ngoài vẫn có thể được phép nhưng một tỷ lệ lớn nhất định vốn cổ phần của công ty con phải do các nhà đầu tư trong nước nắm giữ. Ở Hoa Kỳ, vốn nước ngoài trong một hãng hàng không bị hạn chế không quá 25%. Ở Ấn Độ, các công ty nước ngoài không được phép sở hữu các doanh nghiệp truyền thông cho tới tận năm 2001, và từ năm 2001 thì nới lỏng các quy định cho phép sở hữu nhưng quá không quá 26% cổ phần của một tờ báo.

Lý do cho việc giới hạn quyền sở hữu gồm 2 phần. Một là, một số lĩnh vực nhất định bị loại trừ ra khỏi danh mục cho phép nước ngoài đầu tư vì lý do an ninh hoặc cạnh tranh. Đặc biệt, ở những nước chậm phát triển, nhiều người lo rằng các công ty trong nước sẽ không thể phát triển nếu không hạn chế sự cạnh tranh từ nước ngoài bằng sự kết hợp của thuế quan nhập khẩu cao và việc kiểm soát FDI.

Hai là, hạn chế quyền sở hữu dường như được dựa trên niềm tin rằng chủ sở hữu trong nước sẽ giúp tối đa hóa lợi ích về chuyển giao nguồn lực và tạo việc làm của FDI cho nước nhận đầu tư. Cho tới tận đầu những năm 1980, chính phủ Nhật vẫn cấm hầu hết các hình thức FDI nhưng cho phép liên doanh giữa các công ty Nhật và công ty đa quốc gia nước ngoài nếu như công ty nước ngoài có công nghệ có giá trị. Chính phủ Nhật rõ ràng là tin rằng những thỏa thuận như vậy sẽ đẩy nhanh việc lan tỏa công nghệ có giá trị từ công ty nước ngoài vào nền kinh tế Nhật.

Các yêu cầu về hoạt động cũng có thể có nhiều hình thức. Yêu cầu về hoạt động là những biện pháp kiểm soát các hoạt động của công ty con của một MNE ở nước nhận đầu tư. Phổ biến nhất, đó là tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, và mức độ tham gia của nhân lực nước sở tại trong bộ máy quản lý cao cấp. Giống như với việc hạn chế quyền sở hữu, logic nằm sau các yêu cầu về hoạt động là những quy định như thế sẽ giúp tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu chi phí FDI đối với nước nhận đầu tư. Hầu như tất cả các nước đều áp dụng một số hình thức yêu cầu hoạt động nếu phù hợp với mục tiêu của họ. Tuy nhiên, những biện pháp này phổ biến ở các nước chậm phát triển hơn là ở những nước công nghiệp phát triển28. Ví dụ, một nghiên cứu cho thấy khoảng 30% các công ty con của MNEs Hoa Kỳ ở những nước chậm phát triển gặp phải các yêu cầu này, trong đó tỷ lệ tương tự ở những nước tiên tiến chỉ là 6%.