Chính sách điều tiết của Nhà nước đối với trụ cột môi trường

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 về  phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Chính phủ nước ta đã quan tâm nhiều hơn đến công tác bảo vệ MT, nhất là MT nước, không khí nhằm góp phần bảo đảm nguồn nước không bị ô nhiễm thông qua triển khai thực hiện công tác quan trắc MT thường xuyên, nhằm xác định tiêu chuẩn nguồn nước, cải tạo kênh mương, khai thông cống rãnh, phát triển hệ thống cây xanh, thành lập đội thu dọn vệ sinh trong các làng nghề để kịp thời thực hiện các biện pháp xử lý nếu phát hiện các tạp chất trong nguồn nước, không khí vượt tiêu chuẩn cho phép; xây dựng hệ thống cống để cung cấp và thoát nước phục vụ SX,… Đồng thời, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ MT, trong đó đặc biệt quan tâm bảo vệ nguồn nước, không khí khi bị ô nhiễm.

Đối với lĩnh vực nuôi trồng, lãnh đạo các làng nghề đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các ngành, địa phương theo dõi, hướng dẫn người nuôi trồng thực hiện các biện pháp xử lý nguồn nước, vùng nguyên liệu mây tre tập trung chuyên canh đảm bảo đủ điều kiện theo chuẩn quy định mới tiến hành nuôi trồng, SX các loài NVL tốt, đồng thời hướng dẫn,  khuyến cáo người nuôi trồng sử dụng hệ thống công nghệ mới theo hướng thân thiện với MT, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho đối tượng NVL mây tre lá sinh sống và phát triển. Bên cạnh đó, cũng hướng dẫn người SX-chế biến xây dựng các hệ thống lắng, lọc nước xả từ hoạt động SX trước khi đưa ra MT tự nhiên bên ngoài cũng như cung cấp Clorine để khử trùng nguồn nước khi có dịch bệnh bùng phát.

Đối với lĩnh vực khai thác, Chính phủ cũng quan tâm đến bảo vệ sự đa dạng giống loài, nhằm duy trì sản lượng khai thác theo hướng bền vững. Do đó, chính quyền các tỉnh làng nghề đã ban hành một số văn bản quy định về việc cấm sử dụng hóa chất và các hình thức khai thác tận diệt,… trong khai thác NVL, vừa nhằm bảo tồn chủng loại, vừa đảm bảo không gây ô nhiễm MT nước, không khí để duy trì khả năng tái tạo giống loài. Bên cạnh đó, UBND các tỉnh, làng nghề cũng chỉ đạo ngành  chức năng và các địa phương vận động người dân không xả thải rác, nước thải có chứa hóa chất chưa qua xử lý vào MT tự nhiên mà phải thu gom, xử lý theo quy định. Những hoạt động này đã góp phần quan trọng bảo vệ  MT để nuôi dưỡng các loài NVL, góp phần gia tăng chủng loại và số lượng nên năng suất khai thác khá ổn định.

Chính sách điều tiết về MT cũng còn những bất cập, cụ thể là: Từ trước năm 2010, các làng nghề chủ yếu triển khai thực hiện các văn bản của Trung ương mà chưa quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng cơ chế, chính sách riêng để tạo điều kiện cho ngành khai thác và nuôi trồng PTBV, nhất là bảo vệ nguồn nước, không khí tự nhiên và bảo tồn sự đa dạng giống loài NVL mây tre lá. Mặt khác, công tác tổ chức thực thi các quy định của  Trung ương cũng chưa thật sự triệt để và nông-ngư dân cũng chưa chấp hành nghiêm các quy định về quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi mây tre lá. Các đối tượng hành nghề   khai thác vẫn thực hiện những nghề cấm, nghề lạm sát nguồn lợi NVL… Các cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung (cấp huyện, xã) ít quan tâm đến vấn đề này, trong khi cơ quan quản lý chuyên ngành thì quá mỏng, kinh phí để tổ chức thực hiện quản lý nguồn lợi mây tre lá lại hạn chế.

Hiện nay, cơ quan quản lý tại các làng nghề vẫn chưa thực hiện xong quy hoạch vùng cấm khai thác, mùa vụ cấm khai thác (trong thời gian sinh sản của các loài nguyên vật liệu), cũng như quy hoạch nghề khai thác phù hợp với nguồn lợi mây tre lá, nhằm đảm bảo điều  kiện cho nguồn lợi tái tạo. Các cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa điều tra, thống kê số liệu chính xác về nguồn lợi mây tre lá để xác định khả năng cho phép khai thác, nhằm góp phần đảm bảo nguồn lợi còn có khả năng tái tạo và phát triển.

Ý thức bảo vệ MT nước, bảo vệ nguồn lợi mây tre lá của người dân còn thấp, phần lớn nông dân chưa nhận thức đúng đắn về tác hại của sự ô nhiễm nguồn nước, không khí nên họ không quan tâm nhiều đến việc bảo vệ MT, vẫn tiếp tục xả rác và nước thải vào tự nhiên. Vấn đề này, chính quyền các làng nghề đã nhận thấy nhưng chưa có biện pháp xử    lý hiệu quả, cũng chưa quy định về biện pháp chế tài nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa vi phạm.