Chính sách điều tiết của Nhà nước đối với trụ cột xã hội

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001–2010 nhấn mạnh “Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở nông thôn, nhất là công    nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ, cần nhiều  lao động… Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong việc cấp đất, hướng dẫn, khuyến khích   và hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn sử dụng máy móc, công cụ cải tiến, thực hiện cơ khí hoá các khâu SX, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và khả năng cạnh tranh của SP trên TT; hỗ trợ, khuyến khích các thành phần KT phát triển nhiều loại hình dịch vụ ở nông thôn, trước hết là các dịch vụ kỹ thuật, tín dụng, thương mại, đời sống… để tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nông dân”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày 5/8/2008 cũng đã một lần nữa đề cao vai trò phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề, đề ra một trong những mục tiêu đến năm 2020 là Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với    hiện nay”. Để đạt được mục tiêu này cần phải “Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn theo quy hoạch, khuyến khích các thành phần KT đầu tư phát triển công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu và TT, đẩy mạnh SX tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề”.

Vấn đề này biểu hiện cụ thể qua những khía cạnh như sau:

  • Chính phủ chỉ đạo Sở Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ,TB&XH) phối hợp với Liên đoàn lao động ở các tỉnh vận động thành lập công đoàn ở các DN có nhiều lao động, trong đó có DN xuất khẩu, các cơ sở chế biến hàng TCMN mây tre lá để thông tin, tư vấn về chính sách, pháp luật đối với người lao động đến công nhân, đồng thời phân tích, giải thích rõ quy định, cơ chế hoạt động của DN cho người lao động thông hiểu, để hai bên có sự đồng thuận, nhằm giữ mối quan hệ hài hòa lợi ích giữa người lao động và chủ sử  dụng lao động. Công đoàn cũng là tổ chức đại diện của công nhân, sẵn sàng đấu   tranh,   bảo vệ quyền lợi của công nhân, thay mặt công nhân đàm phán với chủ DN về các vấn đề liên quan đến phúc lợi, tiền lương và các chính sách khác đối với người lao động, đồng   thời cũng hỗ trợ DN trong công tác quản lý, ổn định tư tưởng của công nhân khi có vấn đề phát sinh giữa DN và công nhân.
  • Chính phủ chỉ đạo chính quyền của các tỉnh có làng nghề hoạt động cũng chú trọng triển khai, tiến hành kiểm tra và đôn đốc thực hiện các chính sách, quy  định do   Trung ương ban hành có liên quan đến vấn đề duy trì phúc lợi, ổn định việc làm và  thu  nhập cho người lao động, cụ thể như: chính sách về mức lương tối thiểu, chính sách về    bảo hiểm XH và bảo hiểm y tế, chính sách về nhà ở, đào tạo nghề cho người lao động.   Nhìn chung, công tác triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương có  liên quan đến khía cạnh XH luôn được chính quyền nhà nước cấp tỉnh quan tâm, tổ chức thực hiện khá nghiêm túc. Đặc biệt là những quy định có liên quan đến chế độ tiền lương, tiền thưởng, hợp đồng lao động, trợ cấp thất nghiệp,…
  • Ngoài việc áp dụng các chính sách chung của Trung ương, các tỉnh có làng nghề trực thuộc cũng tổ chức thực hiện một số hoạt động hỗ trợ người lao động như: vận động xây nhà ở cho người lao động nghèo, tặng quà vào các dịp lễ tết, hỗ trợ mua bảo hiểm y tế, đào tạo kỹ thuật, tổ chức tập huấn và xây dựng mô hình trình diễn để giúp người dân phát triển SX… Song song đó, chính quyền của tỉnh cũng tăng cường công tác vận động,   khuyến khích các DN hoạt động trong lĩnh vực chế biến hàng TCMN mây tre lá tham gia thực hiện các hoạt động từ thiện, đóng góp kinh phí xây dựng cầu, đường giao thông nông thôn,… nhằm tái phân phối một phần lợi ích cho các hộ dân sống xung quanh khu vực SX để góp phần tạo mối quan hệ hài hòa giữa cơ sở chế biến, nuôi trồng và người dân sinh  sống trong vùng.

Tuy nhiên, phần lớn chính sách điều tiết về mặt XH do Trung ương ban hành được  áp dụng chung cho cả nước, nên có một số quy định không phù hợp với thực tiễn của địa phương. Do đó, khi triển khai thực hiện trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc như chính sách xây dựng nhà ở cho công nhân ở các khu công nghiệp,… nên chưa triển  khai  thực hiện được, mặc dù chính quyền của các tỉnh rất quan tâm, nhưng nguồn lực hạn chế, nên cho đến nay, tỉnh vẫn chưa xây dựng được những khu nhà ở cho công nhân tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Do vậy, công nhân làm việc tại các khu, cụm công nghiệp trong các tỉnh phải tự xoay xở về chỗ ở và chi phí thuê nhà cũng khá cao so với mức lương của công nhân, dẫn đến thu nhập thực tế thấp nên điều kiện sống không đảm bảo, chỉ ở mức trung bình. Đây cũng là biểu hiện của sự phát triển chưa bền vững về mặt XH.

  • Nhờ việc áp dụng các cơ chế, chính sách XH khá tốt cũng như triển khai thực hiện nhiều hoạt động XH có ý nghĩa thiết thực, đã giúp phần lớn người lao động trong các làng nghề có việc làm và thu nhập tương đối ổn định, đồng thời đảm bảo phù hợp với khả năng và điều kiện của DN xuất khẩu, cơ sở SX. Từ đó, đã góp phần quan trọng vào công tác  đảm bảo trật tự an toàn XH,  tạo MT thuận lợi cho sự PTBV của ngành hàng TCMN mây  tre lá của Việt

Tuy nhiên, ở các tỉnh có làng nghề vẫn chưa đủ bằng chứng cho thấy các chính sách của chính quyền quan tâm đến vấn đề này được tổ chức thực hiện đồng bộ, dẫn đến một số hạn chế sau:

  • Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về KT và các cơ quan quản lý nhà nước về XH chưa tốt, chưa đảm bảo hài hòa lợi ích giữa phát triển KT với an sinh
  • Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, cơ chế còn hạn chế nên chưa phát huy mạnh mẽ vai trò điều tiết, phân phối lợi ích giữa người lao động và chủ sử dụng lao động nói chung, trong lĩnh vực chế biến hàng TCMN mây tre lá nói riêng.
  • Các chính sách về bảo vệ  quyền lợi của người lao động tuy được quan tâm,  nhưng chưa được thực hiện tốt, vẫn còn tình trạng nợ lương, nợ bảo hiểm XH của các DN đối với người lao động.
  • Các quy định về xử lý vi phạm trong chính sách XH chưa nghiêm, chưa đủ sức răn đe nên tình trạng vi phạm vẫn còn xảy ra thường xuyên. Điển hình như trường hợp các DN nợ bảo hiểm XH của người lao động kéo dài, chủ yếu do tỷ lệ đóng phạt nợ bảo hiểm thấp hơn lãi suất vay ngân hàng nên các DN cố tình vi phạm.

Đây chính là vấn đề cần đặt ra để giải quyết trong thời gian tới.