Chính sách điều tiết kinh tế của Nhà nước đối với hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa XI khẳng định “Tiếp tục đầu tư trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản. Tập trung đầu tư hình thành vùng SX nông nghiệp tập trung, thâm canh tăng năng suất gắn với phát triển công nghiệp chế biến; phát triển các cơ sở SX gắn với vùng sản xuất nguyên liệu”. Đây chính là các tiền đề cơ bản để làng nghề và nguyên liệu phục vụ cho SX của các làng nghề  có  điều kiện  phát triển. Với việc thực hiện đồng bộ các chính sách khuyến khích ngành sẽ giải quyết được    bế tắc về nguồn NVL giá trị cao, một trong những vấn đề then chốt quyết định cho sự  PTBV của ngành.

Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre, hiện Bộ NN&PTNT cùng các  bộ, ngành có liên quan và  các  địa phương đang từng bước triển khai thực hiện.

Ưu tiên quy hoạch các cụm công nghiệp, các cơ sở SX thành phẩm có giá trị KT cao, tổ chức SX liên hoàn từ khâu sơ chế nguyên liệu đến chế biến và XK.”

Ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% kinh  phí cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để thực hiện quy trình:

“Bước 1: Điều tra trữ lượng, diện tích các giống mây, tre.

Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện công tác quản lý hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi NVL nuôi trồng-khai thác vẫn còn một số hạn chế như sau:

Chưa có dữ liệu hoàn chỉnh và chính xác về nguồn lợi NVL nuôi trồng-khai  thác,  tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi NVL nuôi trồng-khai thác cập nhật hàng năm.

Công tác kiểm tra hoạt động khai thác nguồn NVL nuôi trồng-khai thác chỉ mới  được thực hiện ở khu vực ven đồng bằng và các vùng núi sâu xa, chưa được thực hiện ở vùng rộng, vùng khơi vì trang thiết bị của lực lượng Thanh tra Bộ NN&PTNT có nhiều    hạn chế.

Chưa quản lý và thu hút được đối tượng nông dân tham dự tập huấn đều đặn hàng năm về kỹ thuật, công tác đảm bảo an toàn trong khai thác và quy định về khai thác và bảo vệ  nguồn lợi NVL nuôi trồng-khai thác. Kết quả khảo sát cho thấy đến 99% số hộ nông dân được khảo sát cho rằng chưa được tập huấn đều đặn mỗi năm một lần.

Trong khi hệ thống văn bản quy định về nuôi trồng và khai thác NVL hiện hành tương đối đầy đủ thì hầu như chưa có văn bản do chính quyền ban hành quy định cụ thể về hoạt động SX-chế biến. Định hướng phát triển ngành hàng TCMN mây tre ở khâu chế    biến chỉ được khái quát vài nội dung trong Quyết  định số 11/2011/QĐ-TTg như sau:  “Ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí để thực hiện ứng dụng thiết bị, công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học vào các khâu bảo quản, chế biến mây tre. Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để quản lý chất lượng SP hàng mây tre đảm bảo tiêu chuẩn về sức khỏe cộng đồng và MT. Cơ sở SX hàng mây tre được hưởng thuế suất thuế NK 0% đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng cho SX hàng mây tre trong nước chưa SX được   theo danh mục do Bộ Công Thương ban hành.

Nhìn chung, hiện nay có thể nói điều kiện cơ sở hạ tầng ở các làng nghề có khá hơn so với cơ sở hạ tầng ở các làng nông thôn khác. Theo Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân và cơ sở ngành nghề nông thôn cùng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn. Bắt    đầu từ năm 2000-2015 Nhà nước đã đầu tư hơn 440 tỷ đồng cho 42 tỉnh về cơ sở hạ tầng cho làng nghề. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy:

Thiết bị SX thô sơ, công nghệ tổ chức SX yếu kém là hiện tượng tương đối phổ biến trong các làng nghề. 50% số làng nghề khảo sát thiếu thiết bị SX, trong đó có 5,29% số làng nghề thiếu ở mức độ trầm trọng. Điều này đang ảnh hưởng không nhỏ đến tính cạnh tranh của sản phẩm TCMN nước ta so với các nước khác trên thế giới. Vì thế mới có tình trạng một số SP thủ công của Việt Nam mới chỉ XK ở dạng thô hoặc bán thành phẩm với giá trị thấp qua một nước thứ ba, họ sẽ hoàn thiện SP và bán ra TT thế giới với giá trị cao hơn rất  nhiều.  Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến tác động của hoạt động SX-chế biến hàng TCMN mây tre  lá đến đời sống của người lao động (đặc biệt là bệnh nghề nghiệp) và MT sinh thái cũng chưa được thể chế hóa trong các văn bản của Chính phủ.

Từ năm 2005, Chính phủ đã có chủ trương “Nâng cao hiệu quả hoạt động KT đối ngoại, đẩy mạnh XK; tăng cường công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm mở rộng  TT  nước ngoài”, tiếp cận các qui định CEPT/AFTA nhằm chủ động trong  XK vào TT Hiệp  hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), mở rộng thâm nhập vào các TT mới như Trung Quốc, Trung Đông, Châu Phi, Nga và Đông Âu.

Tại Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/06/2010 của Chính phủ về chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và các văn bản hướng dẫn thi hành là  các DN sản xuất, kinh doanh mây tre được nhà nước hỗ trợ kinh phí xúc  tiến thương  mại trong và ngoài nước theo quy định: “Khuyến khích thành lập các  trung  tâm nghiên  cứu, thiết kế mẫu mã, SP mới phục vụ cho các cơ sở SX.

Trong bối cảnh biến động, khi giá cả các yếu tố ĐV như vật tư, nguyên liệu, lao động, lãi suất tiền vay… rất  khó kiểm soát thì  sự hỗ trợ của Chính phủ với lượng ngân  sách rất lớn được sử dụng hàng năm từ các chính sách về khuyến công, chương trình bảo  tồn làng nghề, chương trình hỗ trợ cơ sở hạ tầng… là hết sức cần thiết. Hiện tại, còn nhiều chồng chéo trong quản lý ngành nghề nông thôn và làng nghề dẫn đến hiệu quả hỗ trợ còn chưa được như mong đợi. Với tư cách là cơ quan tham mưu mà  hiệu quả tư vấn  của các cấp cũng chưa cao, Nhà nước ta thiếu các cán bộ chuyên trách ở tầm chuyên gia có khả  năng bao quát được các vấn đề trọng tâm của ngành. Cùng một nội dung hoạt động nhưng còn tình trạng chưa rõ chức năng quản lý giữa các sở liên quan, cùng một hoạt động nhưng có nhiều cơ quan triển khai khác nhau, đặc biệt giữa Sở NN&PTNT, Sở Công Thương và trong nhiều trường hợp với Sở KH&CN. Thống kê trên cả nước cho thấy có 24 tỉnh giao việc quản lý làng nghề cho Sở Công Thương phụ trách và 39 tỉnh do giao cho Sở NN&PTNT. Mặt khác, các tỉnh, các sở ban ngành chưa có một cơ quan chịu trách nhiệm chính, hay một Hội đồng Quốc gia đứng ra để nhằm tối ưu hóa nguồn lực hiện có và thống nhất chiến lược phát triển ngành một cách lâu dài để hỗ trợ ngành TCMN.