Chính sách đối với Việt Nam nhằm thực hiện tốt các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

Định hướng để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

Hiện nay, khi tham gia liên kết kinh tế của ASEAN như AFTA, AFAS, AIA Việt Nam vẫn chọn cách tham gia ít nhất có thể, kéo dài lâu nhất có thể và ít ràng buộc nhất có thể trong các cam kết cắt giảm thuế quan và mở cửa thị trường, chứ chưa thực sự tích cực gia nhập lộ trình cam kết của nhóm ASEAN-6 [44, tr.160]. Tuy nhiên, để Việt Nam có thể hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế các quốc gia trong khu vực, nâng cao hiệu quả tham gia hợp tác ASEAN và tranh thủ tối đa những lợi ích có được từ việc thực hiện cam kết tự do di chuyển lao động có chuyên môn, nhằm thiết lập hệ thống thúc đẩy sự lưu chuyển của lao động có chuyên môn trong ASEAN chúng ta cần hướng đến:

Một là, tích cực đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia trong khu vực trên tất cả các lĩnh vực. Khu vực Ðông Nam Á và ASEAN có ý nghĩa chiến lược với  iệt Nam, đây là khu vực liên quan trực tiếp tới môi trường an ninh và phát triển của đất nước, là địa bàn phù hợp với thế và lực của iệt Nam, là nhân tố quan trọng để iệt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế. Do đó, cần đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia trong ASEAN xét cả về hợp tác đa phương và quan hệ song phương. Kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác đa phương và hợp tác song phương, trong  khi tham gia hợp tác ASEAN đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương giữa

iệt Nam và các nước trong ASEAN cũng như các đối tác của ASEAN, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn.

Hai là, việc tham gia hợp tác với ASEAN đặc biệt trong thực hiện các cam kết về tự do di chuyển lao động có chuyên môn cần tiếp tục thực hiện theo phương châm “chủ động, tích cực và có trách nhiệm”, làm hết sức mình để góp phần xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất và khẳng định vai trò  ngày càng quan trọng của iệt Nam trong khu vực.

Việt Nam cần chủ động đề xuất các sáng kiến và ý tưởng mới, có tính khả thi, nhằm thúc đẩy hợp tác, tăng cường liên kết nội khối ASEAN, cũng như mở rộng quan hệ đối ngoại. Thúc đẩy các hoạt động liên quan đến phát triển lực lượng lao động, đào tạo kỹ năng, hiệu quả lao động nhằm bảo đảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp và lao động. Chúng ta cần tích cực cùng ASEAN chung tay giải quyết các vấn đề khó khăn, phức tạp liên quan đến di cư lao động nội khối như: các vấn  đề bảo vệ quyền của lao động di cư, tính toán, phân tích, giám sát, và tuyên truyền hiệu quả về tuyển dụng, tiền lương, điều kiện lao động, các kỹ năng hay giải quyết những vấn đề liên quan đến nạn buôn bán người và di cư trái phép.

Có trách nhiệm cùng ASEAN nỗ lực thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả các thỏa thuận và cam kết đã đề ra, nhằm tạo nhiều cơ hội việc làm với thu nhập khá hơn cho người lao động, góp phần nâng cao đời sống của một bộ phận dân cư, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội và xây dựng một đội ngũ lao động có trình độ tay nghề và tác phong công nghiệp.

Ba là, các cơ quan có thẩm quyền cần đề ra chính sách, biện pháp và cách thức phù hợp với tính chất và mức độ liên kết trong ASEAN về lĩnh vực tự do di chuyển lao động có chuyên môn nhằm tạo lập thông tin về thị trường lao động, tạo cơ hội điều kiện cho các dòng dịch chuyển lao động diễn ra thuận lợi.

Một số giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết về tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

Để tận dụng các cơ hội do quá trình thực hiện cam kết di chuyển lao động có chuyên môn đem lại, trong những năm tới iệt Nam cần có chính sách phù hợp để trước hết là thực hiện tốt các cam kết trong AEC, đồng thời tận dụng cơ hội mà AEC mang lại nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. iệt Nam cần chú trọng thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp như sau:

Một số giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết về tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

Thứ nhất, Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền để nâng cao nhận thức và đồng thuận xã hội đối với mục tiêu xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN.

Tình trạng thiếu thông tin và hạn chế nhận thức về AEC là thực tế đang tồn tại ở hầu hết các quốc gia ASEAN, trong đó có iệt Nam. Đây là một rào cản lớn đối với tiến trình hình thành AEC. Người dân và doanh nghiệp khi không hiểu biết về AEC về các quy định trong việc thực hiện cam kết di chuyển tự do lao động sẽ không thể có tâm thế và sự chuẩn bị tốt để nắm bắt các cơ hội mà AEC mang lại. Do vậy, việc làm quan trọng để chúng ta có thể thực hiện tốt cam kết về di chuyển tự do lao động có chuyên môn là cần đẩy mạnh và đổi mới công tác thông tin tuyên truyền để xã hội và người dân nắm bắt được những nội dung cơ bản của AEC cũng như ý nghĩa quan trọng của tiến trình này đối với khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng.

Công tác thông tin, tuyên truyền trong thời gian tới cần phải được cải thiện về nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền. Về nội dung cần nâng cao hơn nữa sự hiểu biết chung và nhận thức của đông đảo các bên liên quan, các tầng lớp nhân dân về AEC cũng như sự tham gia của Việt Nam trong AEC. Đặc biệt phải tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về các tiêu chuẩn cụ thể được các nước ASEAN khác công bố và áp dụng trong quá trình thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn, các thông tin về việc cấp chứng chỉ chứng nhận kỹ năng tay nghề. Cung cấp thông tin chi tiết và chính xác về các khoản cấu thành nên tổng chi phí đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật.…Tổ chức các chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài để phổ biến các kiến thức quy định về di chuyển lao động, điều kiện dịch chuyển, đặc biệt chú trọng phổ biến cách thức phản ánh tình trạng quyền và lợi ích của người lao động khi bị vi phạm và quy trình bảo vệ họ khi ở nước ngoài cũng như khi về nước… Quan tâm phổ biến thông tin về hội nhập đến lực lượng lao động trẻ là học sinh, sinh viên để họ có thể chuẩn bị tâm lý, chuẩn bị, kiến thức và kỹ năng cho quá trình tìm kiếm và phát triển nghề nghiệp sau này.

Hình thức tuyên truyền phải đa dạng phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Như việc tổ chức nói chuyện, chia sẻ thông tin, phát tờ rơi, tổ chức cuộc thi tìm hiểu về ASEAN về các cam kết kinh tế Việt Nam tham gia ký kết.

Thứ hai, Việt Nam cần chủ động xem xét xây dựng, điều chỉnh khuôn khổ pháp lý trong nước để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện cam kết di chuyển lao động có chuyên môn trong ASEAN.

Để thực hiện tốt cam kết về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong ASEAN, Việt Nam cần tiếp tục rà soát và điều chỉnh các quy định pháp luật của mình. Dù Bộ luật Lao động và các văn bản dưới luật đã có nhiều thay đổi phù hợp với cam kết quốc tế mà Việt Nam ký kết, tuy nhiên việc tiếp nhận lao động nước ngoài và đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài còn nhiều hạn chế. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện Pháp lệnh về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam; Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành, luật cần quy định thống nhất đầu mối thực hiện công tác quản lý xuất nhập cảnh.

Để chuẩn bị tốt hơn cho việc thực hiện các MRA trong khuôn khổ AEC, tạo điều kiện cho việc di chuyển lao động có chuyên môn trong ASEAN, Việt Nam cần xây dựng và hoàn thiện các quy định, tiêu chuẩn để được công nhận là “lao động lành nghề ASEAN”. Bộ luật Lao động cần được xây dựng theo nhận thức mới để phân biệt rõ các loại hình đưa người đi lao động nước ngoài dưới dạng xuất khẩu lao động hay hiện diện thể nhân.

Cần sửa đổi luật đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài theo hướng: (1)Quy định rõ vai trò của các cơ quan chức năng của Nhà nước trong đảm bảo quyền tiếp cận thông tin liên quan đến quá trình đi làm việc ở nước ngoài của người lao động, đặc biệt của lao động nữ; (2)Quy định r hơn trách nhiệm của các bên liên quan, đặc biệt cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài bao gồm cả Ban quản lý lao động trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài.

Thứ ba, Việt Nam tập trung xây dựng và hoàn thiện cơ quan hỗ trợ cho di chuyển lao động giữa iệt Nam và ASEAN.

Đễ hỗ trợ tốt hơn cho việc thực hiện tự do di chuyển lao động có  chuyên môn, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện, mở rộng phạm vi hoạt động của các Ủy ban, Hội đồng cấp chứng chỉ nghề trong những lĩnh vực thực hiện tự do di chuyển lao động có chuyên môn.

Mặt khác, Nhà nước cần củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc; hay cơ quan quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Cần xây dựng, kiện toàn đội ngũ công chức có đủ năng lực và chống tham nhũng trong đội ngũ công chức thuộc các cơ quan này. Cần xem xét tăng thêm số lượng các Ban quản lý lao động tại các nước tiếp nhận lao động Việt Nam để hỗ trợ tốt hơn cho việc bảo vệ quyền của người lao động di trú. Bên cạnh đó cần xác định cơ quan nào có trách nhiệm hướng dẫn, cung cấp thông tin cho người lao động di cư hay nhập cư, cơ quan nào là đầu mối trong quản lý, thống kê và bảo vệ người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và người Việt Nam làm việc tại nước ngoài khi có các tranh chấp xảy ra.

Thứ tư, Việt Nam cần nghiêm túc thực hiện các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC.

Từ khi tham gia vào ASEAN, Việt Nam đã thể hiện vai trò một thành viên có trách nhiệm trong khối, tham gia tích cực và đóng góp hiệu quả vào các chương trình hợp tác ASEAN. Hiện Việt Nam là một trong ba quốc gia đã đạt tỷ lệ thực thi cao nhất các biện pháp trong lộ trình xây dựng AEC với tỷ lệ trung bình xấp xỉ 90%. Việt Nam cũng đã phê chuẩn các gói cam kết về dịch vụ và đầu tư nhằm thúc đẩy hợp tác nội khối trong các lĩnh vực này. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nỗ lực đàm phán về các giải pháp nhằm cân đối giữa mục tiêu chung tự do hoá thương mại của khối với hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, đề nghị có những linh hoạt đối với các mặt hàng nhạy cảm, cụ thể như việc duy trì thuế đối với đường, gạo, xăng dầu…

Việc thực hiện tốt các cam kết của AEC sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện tốt cam kết di chuyển tự do lao động có chuyên môn. Vì vậy trong những năm tới Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong việc thực hiện tốt các cam kết của mình để có thể hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực.

Thứ năm, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh đàm phán song phương và đa phương để ký kết các thoả thuận, hiệp định về lao động, về công nhận trình độ tay nghề, chứng chỉ giữa Việt Nam với các nước và các hiệp định có liên quan tạo môi trường thuận lợi cho di duyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc.

Để các dòng chuyển dịch lao động có chuyên môn có thể diễn ra một cách suôn sẻ, Việt Nam cần nỗ lực hợp tác với các quốc gia ASEAN đưa ra lộ trình thực hiện các MRA hiện hành và các MRA tương lai. iệt Nam cần tích cực đẩy mạnh đàm phán song phương và đa phương để ký kết các thoả thuận, hiệp định về lao động, về công nhận trình độ tay nghề chứng chỉ, các hiệp định có liên quan, tạo môi trường thuận lợi cho di duyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc và giúp người lao động nước ngoài tiếp cận với thị trường lao động Việt Nam.

Thứ sáu, Việt Nam tích cực hợp tác lao động với các nước thành viên ASEAN.

Để thực hiện tốt hơn nữa các cam kết di chuyển lao động có chuyên môn, trong những năm tới Việt Nam cần tích cực hợp tác trao đổi lao động với các nước ASEAN, đặc biệt tập trung vào xây dựng các cam kết chung về lao động. Chúng ta cần tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào các cơ chế của khu vực để thúc đẩy hành động bảo vệ quyền của lao động di cư và mở rộng sự công nhận trình độ kỹ năng giữa các quốc gia, đặc biệt là trong các ngành có trình độ kỹ năng ở mức thấp và trung bình như ngành xây dựng. Việt Nam cần hợp tác với các bên có liên quan nhằm triển khai các thỏa thuận trong Tuyên bố Cebu về lao động di cư, thiết lập khung trình độ nghề quốc gia và kết nối hệ thống này với Khung trình độ tham chiếu ASEAN, tạo điều kiện cho sự công nhận trình độ kỹ năng của lao động di cư.

Thứ bảy, Việt Nam tăng cường hợp tác và phối hợp hành động với những cơ quan đồng cấp của các quốc gia ASEAN nhằm thúc đẩy việc xây dựng và triển khai các cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho di chuyển tự do lao động có chuyên môn trong khuôn khổ AEC.

Các cơ quan chức năng của iệt Nam cần đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện các cơ chế hợp tác với các quốc gia trong khu vực nhằm tạo môi trường thuận lợi, giảm thiểu rào cản đối với việc thực hiện các cam kết tự do di chuyển lao động, đặc biệt cần tháo gỡ và xóa bỏ các rào cản liên quan đến thể chế, chính sách. Do đó việc tăng cường hợp tác và phối hợp hành động với những cơ quan đồng cấp trong thực hiện các cam kết về di chuyển lao động có chuyên môn cần được đẩy mạnh.

Một số giải pháp để lao động có chuyên môn của Việt Nam hội nhập vào thị trường lao động của các quốc gia ASEAN và thu h t lao động có chuyên môn của ASEAN vào iệt Nam

Thứ nhất, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh phát triển hệ thống thông tin việc làm.

Để thúc đẩy sự di chuyển của lao động có chuyên môn, đồng thời cũng là biện pháp bảo vệ những lao động này, Việt Nam cần phối hợp với các quốc gia trong  khu vực nhằm tăng cường xây dựng năng lực quản lý lao động di cư thông qua cơ chế chia sẻ thông tin trước khi lao động đi làm việc. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần được tiếp cận những thông tin đầy đủ, chính xác về thị trường lao động cũng như điều kiện hỗ trợ pháp lý khi làm việc ở nước ngoài hay khi về nước.

Mạng lưới văn phòng tư vấn cần mở rộng để tạo điều kiện cho lao động vùng sâu, vùng xa có cơ hội tiếp cận thông tin về di cư tự do. ăn phòng được đảm bảo các nguồn lực về nhân sự, tài chính để duy trì hoạt động. Nguồn lực của văn phòng cần đa dạng hóa, có thể huy động các nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế cùng với ngân sách Nhà nước để đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên.

Xây dựng các trang thông tin điện tử về dư cư, lao động di cư trong đó chú trọng phổ biến các thông tin về việc làm, điều kiện lao động, quy trình thủ tục cho xuất nhập cảnh… kết hợp sử dụng hình thức cung cấp thông tin qua các trang mạng cá nhân như facebook, twitter, zalo… Đối với vùng sâu, vùng xa nên sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, radio hay các mạng lưới truyền thông công cộng của thôn, xã…

Thứ hai, Việt Nam tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu hội nhập.

Để phát triển lợi thế về nguồn nhân lực những năm tới Việt Nam cần đặc biệt chú trọng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là trong các lĩnh vực ưu tiên của ASEAN như: nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế để hội nhập ASEAN, tận dụng tối đa các cơ hội từ MRA liên quan đến y tế, nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực ngành du lịch để tận dụng MRA trong ngành du lịch…

Để đạt được mục tiêu này cần: (1)Xác định các tiêu chuẩn kỹ năng cho người lao động ở từng nhóm trình độ và ngành nghề. Thực hiện các cam kết, đóng góp vào việc xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn ASEAN về giáo dục nghề nghiệp; ưu tiên hoàn thiện và áp dụng khung trình độ quốc gia trong giáo dục đào tạo; tham gia xây dựng khung tham chiếu trình độ ASEAN. (2)Phát triển các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho di chuyển lao động nội khối ASEAN, chú trọng đa dạng hóa loại hình và nội dung đào tạo. Tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục đào tạo như phát triển đội ngũ giáo viên chuẩn hóa theo các cấp độ (quốc gia, khu vực và quốc tế); phát triển chương trình đào tạo phù hợp với công nghệ sản xuất hiện đại theo hướng mở, linh hoạt, thích hợp với các cấp và trình độ đào tạo nghề; áp dụng một số chương trình đào tạo của các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đổi mới hoạt động đào tạo, chuyển đổi chương trình giáo dục đào tạo từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển kỹ năng và năng lực thực hành; đa dạng hóa nội dung dạy nghề theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ; hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học. (3)Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo, đặc biệt là những nước thành công trong giáo dục đào tạo ở khu vực ASEAN và trên thế giới. Hợp tác với các nước ASEAN để tiến tới công nhận kỹ năng nghề giữa các nước. Tích cực tham gia vào các hoạt động của khu vực và thế giới để giao lưu và học hỏi kinh nghiệm, như tham gia Hội thi tay nghề ASEAN, Hội thi tay nghề thế giới,v.v.. Tích cực hợp tác với các trường đại học trong ASEAN, đẩy mạnh hệ thống phục vụ việc công nhận kỹ năng, tay nghề cho người lao động, chú ý những ngành nghề có lao động với kỹ năng thấp và trung bình chiếm tỷ lệ cao như xây dựng, dịch vụ….

Thứ ba, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả quản lý và điều tiết dòng di chuyển lao động có chuyên môn giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN.

Một là, đối với dòng xuất khẩu lao động có chuyên môn của Việt Nam. Cần thực hiện quản lý chặt chẽ người lao động làm việc ở các nước ASEAN thông qua xây dựng hệ thống quản lý thông tin lao động di cư bao gồm: thông tin về số lao động di chuyển hàng năm, đặc điểm, mức lương, điều kiện lao động, thời gian di chuyển, các cam kết, dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập của người lao động hồi hương đã được nhận. Một hệ thống dữ liệu số hóa được thiết lập và có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của các bên liên quan (cơ quan quản lý lao động các cấp, doanh nghiệp dịch vụ, cơ quan xuất nhập cảnh, …) để thúc đẩy hỗ trợ lao động có cơ hội tìm kiếm phát triển nghề nghiệp ở nước ngoài.

Hai là, đối với dòng nhập khẩu lao động có chuyên môn vào Việt Nam. Nhà nước cần có chiến lược trong quản lý và thu hút lao động nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam. Thông qua việc hoàn thiện hệ thống luật pháp quản lý người lao động nước ngoài ở Việt Nam; hoàn thiện thể chế thị trường lao động để tuyển dụng lao động nước ngoài làm việc, tăng cường xây dựng hệ thống quản lý người lao động nước ngoài ở Việt Nam… Bên cạnh đó cần xây dựng cơ chế chính sách thu hút lao động có chuyên môn ở nước ngoài vào iệt Nam làm việc, đặc biệt thông qua các hoạt động đầu tư. Cần đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư đòi hỏi chuyên môn cao để thu hút lao động có chất lượng chuyên môn.

Thứ tư, Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác thương mại giữa iệt Nam và các quốc gia ASEAN.

Hạn chế trong hợp tác thương mại khiến cho việc di chuyển lao động có chuyên môn giữa iệt Nam với các quốc gia trong khu vực ASEAN còn diễn ra ở mức khiêm tốn. Chính vì vậy để thúc đẩy dòng di chuyển lao động có chuyên môn cần đẩy mạnh hợp tác thương mại hai chiều giữa iệt Nam với các quốc gia khác trong khu vực thông qua các biện pháp như: (1)Tăng cường hợp tác và phối hợp hành động nhằm thúc đẩy việc triển khai các cam kết đã thỏa thuận trong khuôn khổ AEC, cũng như các cơ chế hợp tác song phương khác nhằm tạo môi trường thương mại thuận lợi, giảm thiểu rào cản thương mại; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Việt Nam cũng như doanh nghiệp nước ngoài đến iệt Nam đầu  tư sản xuất kinh doanh. (2)Cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư từ ASEAN đến đầu tư tại  iệt Nam, đặc biệt với các dự án đầu  tư có công nghệ khoa học hiện đại, đầu tư trong lĩnh vực kinh tế tri thức với nguồn lao động chất lượng cao. (3) ây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt các tuyến đường giao thông liên lạc và hệ thống cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển sản xuất, kinh doanh thúc đẩy giao thương giữa iệt Nam và các quốc gia ASEAN. (4)Ngoài ra, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đặc biệt thúc đẩy triển khai cơ chế một cửa quốc gia trong khuôn khổ cơ chế một cửa ASEAN. Cơ chế này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các quốc gia thông qua tiết kiệm chi phí cũng như giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính.

Thứ năm, Việt Nam tăng cường các biện pháp bảo vệ người lao động di cư.

Người lao động di cư luôn phải đối mặt với phân biệt đối xử và nguy cơ không được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng. Do vậy cần tăng cường các biện pháp bảo vệ người lao động di cư thông qua thực thi các Công ước quốc tế; mở rộng độ bao phủ và tính liên thông của hệ thống an sinh xã hội dành cho lao động di cư. Tăng cường ký kết hợp tác song phương và đa phương về bảo vệ lao động di cư với các quốc gia trong khu vực. Hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm khi họ về nước.