Chính sách hạn chế sự phân hoá giàu nghèo ở các nước nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng

Thông thường ở các nước có nền kinh tế thị trường, những người đã có sở hữu về bất động sản, nẵm giữ vị trí có ảnh hưởng và có học vấn tốt sẽ có điều kiện tốt nhất để thu được lợi ích khi quá trình tăng trưởng diễn ra. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng muốn hạn chế sự phân hoá giàu nghèo thì không thể tập trung vào tăng trưởng kinh tế trước rồi sau đó mới phân phối lại. Vị trí kinh tế và xã hội ban đầu có thể định đoạt cách thức phân phối trong xã hội. Để giảm bớt đói nghèo và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo thì các giải pháp như cải cách ruộng đất, giáo dục phổ cập v..v.. cần phải được đặt ra ngay từ đầu. Nhiều nước ở Đông Nam á và Châu á đã sử dụng các chính sách và biện pháp sau:

– Cải cách nông nghiệp và phân phối lại ruộng đất:

Các nước Đông Nam á nói chung đều là đất nước có nền văn minh lúa nước, đi lên từ nền nông nghiệp. Việc phân phối lại ruộng đất cho những cho những người nghèo sẽ làm giảm sự bất công về thu nhập. ở nhiều nước đang phát triển đã thực hiện cải cách ruộng đất với các biện pháp khác nhau. Tuy kết quả của cải cách ruộng đất đạt được ở mức độ khác nhau nhưng nhìn chung đã góp phần hạn chế sự chiếm hữu ruộng đất lớn của địa chủ. Mặc dù sự nghèo đói trong nông thôn không chỉ do sự phân phối ruộng đất bất công mà còn do năng suất nông nghiệp thấp, nhưng nhiều công trình nghiên cứu gần đây cho thấy việc phân phối lại ruộng đất cho những người nghèo thường làm tăng sản lượng nông nghiệp của các nước đang phát triển vì hai lí do chủ yếu:
. Nông dân khi có quyền sở hữu ruộng đất sẽ hăng hái hơn trong việc cải tạo, đầu tư vào đất đai.
. Nông dân có điều kiện sử dụng nhiều lao động và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất.

– Vốn tín dụng:

Nói chung, ở các nước kém phát triển, người nghèo chủ yếu sống nhờ vào sức lao động của họ và người giàu sống trên những khoản thu từ quyền sở hữu tài sản của họ. Người nghèo không chỉ có ít vốn, sự nghèo đói của họ cũng hạn chế khả năng trong việc tận dụng cơ hội đầu tư tốt, chẳng hạn như sự thay đổi hạt giống mới, phân bón, các công cụ, hoặc giáo dục con cái của họ. Vì vậy, việc cung cấp vốn bằng các hình thức khác nhau là một điều kiện quan trọng để cải thiện cuộc sống cho người nghèo.

Tuy nhiên, những nỗ lực của Chính Phủ ở nhiều nước trong lĩnh vực này cho thấy kết quả còn hạn chế. Các cơ quan Nhà nước thường đòi hỏi phải có thế chấp. Những người có ít tài sản ít khi có thể đáp ứng những tiêu chuẩn như vậy. Hơn nữa, cần nhiều thời gian sắp xếp để tiến hành và giám sát các khoản cho vay và có thể để sắp xếp sự giúp đỡ kỹ thuật, cũng như sự mạo hiểm cao hoặc các khoản không trả được, làm cho các chương trình tín dụng này khó khăn trong việc hỗ trợ. Ngoài ra số lượng tín dụng được trợ cấp có hạn và thường không tới được tay người nghèo mà rơi vào tay các nhóm có ảnh hưởng lớn.

– Đầu tư công cộng vào đường xá, trường học, các dự án tưới tiêu và hạ tầng cơ sở khác cũng có thể đem lại những lợi ích trực tiếp cho người nghèo, làm tăng năng suất hoặc tạo ra việc làm cho họ.

– Chính sách marketing:

Cải tiến các điều kiện thị trường là điều kiện thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá ở các vùng nông thôn. Nhà nước có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này. Chính phủ nhiều nước đang phát triểm đã thực hiện các biện pháp như phát triển cơ sở hạ tầng ( xây dựng đường giao thông, bưu điện ), cung cấp thông tin giá cả trong nước và quốc tế, hình thành đội ngũ những người marketing, thành lập các cơ quan marketing, thực hiện các chính sách khuyến khích, phân bố sản xuất hàng hoá.

– Chính sách giá cả và tỷ giá hối đoái:

Nhà nước thường can thiệp vào hệ thống giá với mục tiêu làm giảm sự cách biệt giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp. Biện pháp thường được nhiều nước sử dụng khống chế mức giá sàn đối với một số sản phẩm nông nghiệp. Điều đó có tác dụng tích cực cải thiện điều kiện thu nhập cho một bộ phận dân cư ở nông thôn đang có mức sống thấp. Đối với một số nước xuất khẩu nông sản, chính sách tỷ giá cũng được sử dụng nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước.

– Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất như khuyến khích xây dựng các nông trại, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế tập thể.
– Công nghiệp hoá nông thôn:

Xây dựng các công trình công cộng, các cơ sở chế biến được coi là giải pháp quan trọng làm giảm sự phân hoá giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. Phát triển công nghiệp nông thôn có tác dụng trực tiếp làm tăng thu nhập, tạo việc làm. Một số nước như ấn Độ, Malaixia đã hạn chế việc mở rộng công nghiệp và các xí nghiệp mới ở các đô thị lớn và đã chú trọng hơn vào phát triển công nghiệp qui mô nhỏ ở nông thôn.

– Giáo dục và đào tạo:

Vốn nhân lực cũng như vốn vật chất có thể đem lại nguồn thu nhập qua thời gian. Nền giáo dục tiểu học phổ cập không mất tiền, là cách thức chủ yếu để tái phân bổ nguồn vốn nhân lực cho lợi ích tương đối của người nghèo.

– Các chương trình về việc làm:

Nạn thất nghiệp ở các nước kém phát triển là một nỗi lo lắng lớn. Nó dẫn tới kém hiệu quả về kinh tế và sự không nhất trí về chính trị cũng như có ảnh hưởng rõ rệt tới việc phân phối thu nhập. Người thất nghiệp chủ yếu là những thanh thiếu niên và những người bước vào lứa tuổi 20 và thường học xong tiểu học hoặc trung học. Một số chính sách thường được các nước đang phát triển áp dụng để giảm bớt thất nghiệp bao gồm việc mở rộng nhanh chóng công nghiệp, các ngành sản xuất dùng nhiều lao động hơn trong sản xuất, phát triển kinh tế và các dịch vụ xã hội ở các vùng nông thôn, hệ thống giáo dục thích hợp hơn, sự phù hợp giữa các chính sách giáo dục và kế hoách hoá kinh tế và dựa trên nhiều hơn vào thị trường trong việc định đặt các mức tiền công- tiền lương.

– Thực hiện các chương trình sức khỏe và dinh dưỡng:

ốm đau và thiếu thốn thực phẩm sẽ hạn chế các cơ hội về công ăn việc làm và sức kiếm sống của người nghèo. Các khoản trợ cấp lương thực hoặc phân phát khẩu phần lương thực tự do sẽ làm tăng thu nhập cho người nghèo, dẫn tới sức khỏe và dinh dưỡng tốt hơn, cho phép con người làm việc nhiều ngày hơn trong một năm và nâng cao kết quả của họ trong công việc.

– Các chương trình dân số:

Mức sống của người nghèo được cải thiện nhờ qui mô gia đình nhỏ hơn, do mỗi người lớn có ít người ăn theo hơn.

– Nghiên cứu và công nghệ:

Những lợi ích của việc ứng dụng khoa học và công nghệ mới trong việc giảm bớt nghèo nàn là rõ ràng nhất trong nông nghiệp. Cuộc cách mạng xanh đã làm tăng lượng cung cấp lương thực cho người nghèo. Nhưng việc nghiên cứu nhiều hơn nữa là cần thiết để tăng năng suất của các vụ mùa lương thực mà nhiều nông dân có thu nhập thấp phụ thuộc vào đó và để tăng thêm các công việc và các sản phẩm tiêu dùng rẻ trong công nghiệp.

– Di dân:

Khi sự phát triển tiếp tục, nhiều công việc được tạo ra trong khu vực công nghiệp, đô thị, do đó người ta sẽ chuyển tới các thành phố. Mặc dù có nhiều khó khăn, mức sống của dân di cư có công ăn việc làm trong thành phố tuy còn thấp nhưng vẫn thường cao hơn so với dân nghèo nông thôn.

– Thuế khoá:

Các chính sách thuế, như thuế thu nhập luỹ tiến có tác dụng làm giảm bớt bất công thu nhập.

– Chuyển nhượng và trợ cấp:

ở nhiều nước phát triển, các chương trình chống đói nghèo bao gồm các khoản chuyển khoản cho người già, trẻ em, người ốm yếu, tàn tật, thất nghiệp và những người mà sức kiếm sống của họ thấp hơn mức chi tiêu đủ sống.
Một cách tiếp cận lựa chọn là trợ cấp hoặc cấp phát các thức ăn rẻ. Việc trợ cấp cho các loại thực phẩm mà các nhóm có thu nhập thấp cao không ăn sẽ có lợi cho người nghèo.

– Chú trọng vào các nhóm mục tiêu:

Một chiến lược khác để cải thiện cuộc sống của nhiều người nghèo là các chương trình hành động trợ giúp cho người nghèo như mở mang các cơ sở giáo dục và các cơ sở kinh tế nhà nước theo các chương trình mục tiêu. Một số nước như ấn Độ đã dùng những khoản kích thích và trợ cấp công nghiệp để giúp cho các vùng lạc hậu về kinh tế và đào tạo các nhà kinh doanh từ các nhóm nghèo khổ. Một số nước khác đã cố gắng cải thiện điều kiện giáo dục cho phụ nữ hoặc chú trọng tới các chương trình dinh dưỡng cho những người có triển vọng và chăm sóc các bà mẹ và trẻ em, tăng cường bảo hiểm xã hội, các khoản trợ cấp và lương hưu cho người lớn tuổi. Việc nâng cấp nhà ở tại các khu vực đô thị có thể làm tăng thu nhập thực tế trong một số người nghèo. Nhiều nước cũng đã chú trọng tới sự phát triển ở các khu vực nông thôn mà phần lớn người nghèo sinh sống.

– Tấn công toàn diện vào nghèo đói:

Một nghiên cứu của Adelman và Sherman Robison cho thấy rằng, xét một cách đơn lẻ, hầu hết các chính sách như trình bày ở trên là rất khó chấm dứt được sự gia tăng bất công về thu nhập phát sinh trong sự phát triển. Chỉ có sự huy động toàn bộ các chính sách của Chính Phủ hướng vào các chương trình để trợ giúp trực tiếp cho người nghèo- cuộc tấn công vào nghèo đói- mới có thể thành công trong việc giảm bớt sự bất công về thu nhập và làm tăng thu nhập tuyệt đối. Các nước như Đài Loan, Hà Quốc, Singapor đều đã thực hiện phân phối lại thu nhập. Thời kỳ đầu, khi nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, đất đai là được phân phối lại. Giai đoạn sau, sự phân phối lại nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo cho người nghèo được chú trọng.

– Các chính sách định hướng theo tăng trưởng:

Việc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế có lẽ là cách tiếp cận thoả đáng nhất về mặt chính trị để giảm bớt sự nghèo đói. Một số nước có thu nhập vào loại vừa như Malaisia và Thái Lan đã có sự giảm bớt nghèo đói khá thành công nhờ chính sách này.