Chu chuyển tư bản là gì?

b.1) Chu chuyển tư bản. Thời gian chu chuyển của tư bản.

+ Chu chuyển của tư bản.
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lặp đi lặp lại, chứ không phải là một quá trình cô lập riêng lẻ thì gọi là chu chuyển của tư bản.
Khi chúng ta nghiên cứu sự tuần hoàn của tư bản, tức là chúng ta đang nghiên cứu về ba hình thái biểu hiện của tư bản qua ba giai đoạn khác nhau thì khi nghiên cứu về chu chuyển của tư bản chúng ta nghiên cứu về tốc độ vận động của tư bản nhanh hay chậm và nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ đối với việc sản xuất và thực hiện giá trị thặng dư.

+ Thời gian chu chuyển của tư bản.
Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian kể từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thức nhất định (tiền tệ, sản xuất, hàng hoá) cho đến khi nó trở về tay nhà tư bản do cùng dưới hình thức như thế nhưng có thêm giá trị thặng dư.

Thời gian chu chuyển của tư bản là thước đo thời hạn đổi mới, thời hạn lặp lại quá trình tăng thêm giá trị của tư bản.
Như vậy thời gian chu chuyển của tư bản nhất định bằng thời gian lưu thông và thời gian sản xuất của nó cộng lại. Đó là thời gian kể từ khi giá trị tư bản được ứng ra dưới một hình thái nhất định, cho nên khi giá trị tư bản đang vận động quay về cũng dưới hình thái ấy.

Mục đích quyết định của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm tăng giá trị tư bản ứng trước. Không kể là giá trị này được ứng ra dưới hình thái độc lập của nó, tức là hình thái tiền tệ hay được ứng ra dưới hình thái hàng hoá. Trong cả hai trường hợp tuần hoàn của nó, giá trị – tư bản đều trải qua những hình thái khác nhau. Do đó dù cho đứng dưới hình thức T…T hay hình thức SX…SX thì cả hai đều nói lên rằng: 1. Giá trị tư bản ứng trước đã làm chức năng giá trị tư bản, và đã tự tăng thêm; 2. Khi kết thúc tuần hoàn của nó giá trị ứng trước lại quay về với hình thái ban đầu mà nó mang khi mở đầu tuần hoàn. Việc giá trị ứng trước T tăng thêm một lượng, đồng thời với việc tư bản quay lại hình thái ban đầu biểu lộ rõ trong hình thái T…T. Nhưng điều dods cũng được diễn ra trong hình thái hai, hình thái này mang tính chất quyết định cho hình thái 1. Nó là yếu tố để tăng giá trị bằng cách sử dụng lao động thặng dư của công nhân tạo ra giá trị tăng thêm.

Ba hình thái: I>T… T; II>SX…SX; III>H…H khác nhau như sau. Trong hình thái II (SX…SX) là sự lặp lại của quá trình cụ thể là quá trình tái sản xuất, biểu hiện thành một sự lặp lại hiện thực, còn trong hình thái I thì sự lặp lại chỉ mang tính khả năng cả hai đều khác với hình thái III ở chỗ giá trị tư bản ứng trước không kể ứng ra dưới hình thức tiền tệ hay dưới hình thái các yếu tố sản xuất vật chất – là điểm xuất phát, do đó là điểm quay về. Hình thái I, II giá trị tư bản mang tư cách là tư bản ứng trước, hình thái III, giá trị mở đầu quá trình không phải với tư cách là giá trị ứng trước mà với tư cách là giá trị tăng thêm. Là tất cả những của cải nằm dưới hình thái hàng hoá, mà giá trị tư bản ứng trước chi là một bộ phận thôi.

Những hình thái này không thích hợp cho việc nghiên cứu sự chu chuyển của một tư bản bao giờ cũng bắt đầu bằng việc tư bản ứng trước và bao giờ cũng đòi hỏi giá trị tư bản đang lưu thông phải quay trở về hình thái mà nó đã ứng ra. Nếu xem xét ảnh hưởng của chu chuyển đến giá trị thặng dư trong tuần hoàn I và II thì nên xem xét trong tuần hoàn I, nếu nói đến ảnh hưởng của sự chu chuyển đối với việc tạo ra sản phẩm thì cần xem xét tuần hoàn II.

Sau khi toàn bộ giá trị tư bản mà một nhà tư bản cá biệt bỏ vào một ngành sản xuất nào đó, hoàn thành tuần hoàn trong sự vận động của nó, thì nó lại trở về hình thái ban đầu của nó và lại có thể diễn lại cùng một quá trình như thế. Muốn cho giá trị được bảo tồn mãi mãi và tiếp tục tăng thêm giá trị với tư cách là giá trị tư bản thì nó phải lặp lại tuần hoàn ấy.

Tuần hoàn của tư bản khi được coi là một quá trình định kỳ chứ không phải là một hành vi cá biệt thì gọi là vòng chu chuyển của tư bản. Thời gian chu chuyển ấy được quyết định bởi tổng số thời gian sản xuất và thời gian lưu thông cộng lại. Tổng số thời gian ấy là thời gian chu chuyển của tư bản. Thời gian chu chuyển của tư bản bao quát khoảng thời gian từ một định kỳ tuần hoàn của tổng giá trị tư bản đến định kỳ tuần hoàn tiếp theo.
Nếu không nói đến sự ngẫu nhiên riêng rẽ có thể đẩy mạnh hay rút ngắn thời gian chu chuyển đối vơí một tư bản cá biệt thì thời gian chu chuyển ấy nói chung sẽ khác nhau tuỳ theo những sự khác nhau của các lĩnh vực đầu tư cá biệt của tư bản.

b.2) Tư bản cố định, tư bản lưu động.

Khi nghiên cứu tốc độ chu chuyển của tư bản chúng ta xem các bộ phận tư bản chu chuyển như nhau. Nhưng trong thực tế, giá trị các bộ phận tư sản sản xuất chuyển vào sản phẩm theo phương thức khác nhau.
Như chúng ta đã biết một bộ phận của tư bản bất biến nếu đem đối chiếu nó với những sản phẩm mà nó góp phần để chế tạo, thì rõ ràng là giữ nguyên hình thái sử dụng nhất định của nó như lúc mới bước vào quá trình sản xuất. Bộ phận tư bản bất biến đó chuyển vào giá trị cho sản phẩm theo mức độ mà bản thân nó hao phí mất giá tự trao đổi, song song với gía trị sử dụng của nó.

Đặc trưng của bộ phận tư bản bất biến đó là:
Một bộ phận của tư bản đã được ứng ra dưới hình thái tư bản bất biến, nghĩa là dưới hình thái những tư liệu sản xuất để từ đó, hoạt động làm một yếu tố của quá trình lao động, trong suốt thời gian nó giữ được hìn thái sử dụng đặc thù của nó như khi mới gia nhập quá trình lao động ấy. Các tư liệu sản xuất khi đã vào quá trình sản xuất thì không bao giờ ra khỏi quá trình sản xuất. Một bộ phận của giá trị tư bản ứng ra được cố định dưới hình thái ấy, hình thái ấy là do chức năng của tư liệu lao động trong quá trình sản xuất quyết định. Do hoạt động khi lao động một bộ phận đi vào vật phẩm một bộ phận nó bị hao mòn còn một bộ phận vẫn cố định trong tư liệu lao động. Tư liệu lao động càng bên lâu, càng ít hao mòn thì giá trị tư bản bất biến sẽ được cố định dưới hình thái sử dụng ấy trong một thời gian càng lâu. Nhưng bất luận thế nào thì số lượng nhượng đi tỉ lệ nghịch với thời gian hoạt động của nó.

Bộ phận tư bản cố định trong tư liệu sản xuất cũng lưu thông, nó lưu thông không phải dưới hình thái sử dụng mà nó lưu thông dưới hình thái gia trị. Giá trị của nó lưu thông dần dần theo nhịp độ để chuyển vào sản phẩm. Trong suốt quá trình sản xuất giá trị của nó nằm trong nó một cách cố định, độc lập với hàng hoá mà nó góp phần sản xuất ra. Đây là đặc điểm khiến tư bản bất biến mang hình thái tư bản cố định. Từ đó ta có định nghĩa về tư bản cố định.

Tư bản cố didnhj là bộ phận tư bản sản xuất mà bản thân nó tham gia hoàn toàn vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó lại không chuyển hết một lần mà chuyển dần từng phần vào sản phẩm.

Tư bản cố định có hình thái lưu thông đặc biệt thì cũng có một cách chu chuyển đặc biệt phần giá trị bị mất do hao mòn tự nhiên thì giờ lưu thông chuyển nó thành tiền, một phần nữa là giá trị của tư liệu lao động. Như vậy tư bản cố định tồn tại hai hình thái giá trị. Một bộ phận gắn liền với hình thái sử dụng, một bộ phận chuyển thành tiền.

Ta thấy một bộ phận của giá trị tư bản, ứng ra dưới hình thái tư liệu sản xuất, nó có mang bản chất là tư bản cố định hay không còn phụ thuộc vào pưhơng thức lưu thông. Chúng ta biết một sản phẩm khi bước ra khỏi với hình thái hàng hoá mà lại quay trở về với sản xuất mang tính hình thái tư liệu sản xuất, chính vì hoạt động này nên chúng ta trở thành tư bản cố định. Nhưng khi chúng mới chỉ bước ra khỏi một quá trình thì nó không phải là tư bản cố định. Mặt khác, tư liệu sản xuất khi nhà tư bản đưa vào sản xuất thì nó chuyển hết giá trị của nó vào giá trị cuả sản phẩm. Do đó ta thấy tư liệu sản xuất không phải kể tư bản cố định.

Bây giờ ta nói đến yếu tố khả biến của tư bản sản xuất, tức là tư bản chi ra để mua sức lao động. Sức lao động được mua trong thời gian nhất định. Khi nhà tư bản đã mua sức lao động và đưa nó vào quá trình sản xuất thì sức lao động trở thành một yếu tố của tư bản. Khi đưa sức lao động vào quá trình sản xuất, trong một thời gian nhất định sức lao động không những làm ra một lượng giá trị bằng với lượng giá trị của vật ngang giá mà nhà tư bản trả công cho người công nhân đó thì sức lao động còn làm ra một lượng giá trị tăng thêm không được trả công bằng vật giang giá. Lượng giá trị thăm thêm đó gọi là giá trị thặng dư.

Sức lao động khi đã được mua và hoạt động. Giá trị của nó không ngừng chuyển vào giá trị của sản phẩm. Theo một thời gian nhất định, sức lao động lại được mua tiếp, nó được mua liên tục và không ngừng. Cái ngang giá với giá trị của sức lao động mà nó chuyển vào sản phẩm trong khi hoạt động để chuyển hoá thành tiền trong quá trình lưu thông của sản phẩm. Cái giá trị đó nhấta thiết phải không ngừng được chuyển hoá từ tiền thành sức lao động, phải không ngừng đi qua toàn bộ vòng tuần hoàn của các hình thái của nó, nói một cách khác phải không ngừng luân chuyển thì vòng tuần hoàn của sản xuất mới có thể tiếp tục không bị gián đoạn.

Như vậy, bộ phận giá trị của tư bản sản xuất bỏ ra để mua sức lao động được chuyển toàn bộ vào sản phẩm và cùng với sản phẩm thông qua hai biến hoá hình thái thuộc lĩnh vực lưu thông, do sự đổi mới không ngừng, nên bộ phận đó luôn luôn gắn vào quá trình sản xuất. Mặc dù về mặt hình thành giá trị, giữa sức lao động và những yếu tố bất biến không là phải là tư bản cố định, có sự khác nhau thế nào chăng nữa thì phương thức chu chuyển lại giống nhau và đối lập với tư bản cố định. Những yếu tố của tư bản sản xuất đối lập với tư bản cố định do các tính chất chung đó của phương thức chu chuyển của chúng vì chúng là tư bản luân chuyển hay tư bản lưu động. Từ đó ta có định nghĩa về tư bản cố lưu động.
Tư bản lưu động là một bộ phận tư bản sản xuất mà giá trị của nó sau một thời kỳ sản xuất có thể hoàn lại hoàn toàn cho nhà tư bản dưới hình thức tiền tệ sau khi hàng hoá đã bán xong.

Giá trị của sức lao động và tư liệu sản xuất chỉ bỏ ra trong thời gian cần thiết để chế tạo ra sản phẩm. Căn cứ vào quy mô sản xuất do khối lượng tư bản cố định quyết định. Giá trị này nhập toàn bộ vào sản phẩm, do việc bán sản phẩm toàn bộ giá trị đó từ trong lưu thông quay trở về và lại có thể ứng ra lần nữa. Sức lao động và tư liệu sản xuất phải không ngừng thay thế và đổi mới bằng cách mua lại và chuyển chúng từ hình thái tiền tệ thành yếu tố sản xuất. Sức lao động và tư liệu sản xuất không ngừng trải qua toàn bộ vòng tuần hoàn của các biến hoá hình thái; chúng không ngừng chuyển hàng hoá trở lại các yếu tố sản xuất và lại chuyển hoá trở lại cùng thứ hàng hoá đó.

Khi chia tư bản ra thành tư bản cố định và tư bản lưu động cũng là một bộ phận chia khoa học, hợp lý. Sự phân chia này rất cần thiết cho quản lý kinh tế, tuy nhiên chúng ta không nên nhầm lẫn với sự phân chia thành tư bản bất biến và tư bản khả biến là dựa trên tác dụng khác nhau của các bộ phận khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.
Tư bản cố định chu chuyển chậm hơn tư bản lưu động. Khi tư bản cố định chu chuyển được một vòng thì tư bản lưu động chu chuyển được nhiều vòng.

Ngay trong tư bản cố định thời gian chu chuyển của các yếu tố là không giống nhau.
Chúng ta đề cập đến vấn đề hao mòn ở trên. Có hai hình thức phân chia hao mòn của tư bản cố định: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình là hao mòn do sự sử dụng và do tác động của thiên nhiên làm cho những bộ phận cuả tư bản cố định dần hao đi đến chỗ hỏng, không sử dụng được nữa.
Hao mòn vô hình là nói về những trường hợp máy móc tuy còn tốt nhưng bị mất giá vì có những máy móc mới tốt hơn, tối tân hơn xuất hiện.
Để khôi phục lại tư bản cố định đã hao mòn nhà tư bản phải lập quỹ khấu hao. Sau từng thời kỳ bán hàng họ đều trích ra một số tiền ngang với mức độ hao mòn của tư bản cố định để bổ vào quỹ khấu hao được dùng vào việc sửa chữa cơ bản một phần khác được đem vào gửi ngân hàng, chờ đến thời kỳ mua máy móc hoặc xây dựng nhà xưởng mới.

b.3) Chu chuyển chúng và chu chuyển thực tế của tư bản ứng trước.

Sau khi nghiên cứu tư bản cố định và tư bản lưu động C.Mác phân chu chuyển của tư bản ứng trước thành chu chuyển chung (chu chuyển trung bình) và chu chuyển thực tế.

Chu chuyển chung của tư bản ứng trước là con số chu chuyển trung bình của những thành phần khác nhau của tư bản.
Chu chuyển thực tế là thời gian để tất cả các bộ phận của tư bản ứng trước được khôi phục toàn bộ về mặt giá trị, cũng như về mặt hiện vật.
Chu chuyển thực tế do thời gian tồn tại của tư bản cố định đầu tư quy định. Chu chuyển thực tế không ăn khớp với chu chuyển chung của nó. Chu chuyển thực tế thường rút ngắn lại hơn so với chu chuyển chung do ảnh hưởng của hao mòn vô hình.
Sau khi nghiên cứu chu chuyển chung và chu chuyển thực tế của tư bản ứng trước ta đã hiểu chu chuyển một cách cụ thể hơn và có thể phân biệt được rõ hơn sự khác nhau giữa tuần hoàn và chu chuyển của tư bản.

b.4) Tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm. Những phương pháp tăng tốc độ chu chuyển của tư bản.

+ Tỷ suất giá trị thặng dư.
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó, tức là tỉ số theo đó tư bản khả biến tăng thêm giá trị C.Mác đã dùng ký hiệu m để chỉ tỉ suất giá trị thặng dư.
Công thức tính tỉ suất giá trị thặng dư là.
m’ = m/Vx 100%

Tỉ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ bóc lột công nhân về thực chất tỉ lệ này là tỉ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư. Tuy nhiên tỷ suất này không biểu hiện lượng tuyệt đối của sự bóc lột.
+ Tăng tỷ suất chu chuyển của tư bản là để năng suất cao tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm, tức là nâng cao tỷ số giữa khối lượng giá trị thặng dư tạo ra một năm với tư bản khả biến ứng ra trước.

Tuy rằng tỷ suất giá trị thặng dư thực tế không đổi nhưng tư bản chu chuyển càng nhanh, số vòng chu chuyển của tư bản khả biến trong năm càng nhiều thì giá trị thặng dư càng lớn, tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm càng cao.

Tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm che dấu mối quan hệ thực sự giữa tư bản với lao động, gây ảo tưởng là tỷ suất giá trị thặng dư không những chỉ phụ thuộc vào sự bóc lột sức lao động mà còn phụ thuộc vào tốc độ lưu thông của tư bản nữa. C. Mác nói “Hiện nay có thể làm cho người ta có ấn tượng rằng tỷ suất giá trị thặng dư không phải chỉ phụ thuộc vào khối lượng và trình độ bóc lột sức lao động do tư bản khả biến làm cho hoạt động, mà còn phụ thuộc vào những ảnh hưởng không thể giải thích được do quá trình lưu thông đẻ ra”.

Do đó nhà tư bản ra sức rút ngắn thời gian sản xuất và thời gian lưu thông để tăng tốc độ chu chuyển của tư bản. Sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp cho nhà tư bản làm việc đó.

Tuy nhiên cũng có các yếu tố làm cho tốc độ chu chuyển của tư bản chậm xuống.

Kỹ thuật càng phát triển thì tư bản cố định càng lớn, mà tư bản cố định thì chu chuyển chậm, do đó ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển của toàn bộ tư bản.

Sự bố trí sản xuất không hợp lý cho nguyên vật liệu và hàng hoá vận tải loanh quanh, tốn thời gian.
Sự tiêu thụ hàng hoá gặp khó khăn hàng hoá hay bị ứ đọng. Đó là những mâu thuẫn mà tư bản gặp phải trong quá trình chu chuyển của nó. Vì vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản có xu hướng chậm lại.

Nếu gạt bỏ tính chất tư bản chủ nghĩa đi, thì những nguyên lý về chu chuyển của tư bản cũng thích ứng đối với kinh tế ở nước ta hiện nay. Trong nền kinh tế Việt Nam nếu chúng ta càng rút ngắn được thời gian sản xuất và thời gian lưu thông, thì việc sử dụng các nguồn nhân lực vật lực và tài lực càng hợp lý có lợi cho toàn xã hội.