Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường

CHUYỂN ĐỔI SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Mặc dù những cuộc điều tra về tự do kinh tế cho thấy quá trình vận dụng các nguyên tắc tự do hóa thị trường có thể gặp một số trở ngại, về lâu dài xu hướng tích cực vẫn chiếm ưu thế. Từ năm 1985 đến năm 2006, 89% các nước được điều tra có Chỉ số Tự do Kinh tế tăng lên, 6% có chỉ số giảm và 5% không thay đổi. Chỉ số Tự do Kinh tế trung bình cũng tăng từ 5.17 vào năm 1985 lên 6.4 vào những năm gần đây. Tuy nhiên, cần lưu ý là danh sách điều tra ban đầu chỉ là 105 quốc gia, trong khi danh sách điều tra hiện tại là 157 quốc gia, trong đó nhiều quốc gia từng áp dụng nền kinh tế chỉ huy. Nhu vậy tuy các chỉ số có vẻ hứa hẹn nhưng những dữ liệu này chưa đủ để tin tưởng về sức mạnh của xu hướng tự do hóa kinh tế trong tương lai.

Tự do kinh tế với tăng trưởng kinh tế

Chỉ số Tự do Kinh tế có thể phản ánh trung thực căn nguyên và nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Trong những thập niên gần đây các quốc gia chủ trương tự do hóa nền kinh tế là các quốc gia có tỉ lệ tăng trưởng dài hạn cao nhất và đạt mức thịnh vượng hơn các nước ít tự do kinh tế. Những nước đứng thứ hạng cao nhất về tự do hóa kinh tế như Singapore hay Hoa Kỳ thường có tốc độ phát triển cũng như chất lượng cuộc sống cao nhất.

 Thêm vào đó, những quốc gia có mức độ tự do thấp lại thể hiện sự thụt lùi trong 2 thập kỉ qua. Một ví dụ cho trường hợp này chính là Trung Quốc. Cũng như các nền kinh tế mới nổi khác, Trung Quốc có tỉ lệ tăng trưởng cao (10% có lẻ) nhưng lại có mức độ tự do thấp (54% vào năm 2007). Nếu vận dụng các thước đo tự do kinh tế ngày nay vào Trung Quốc của 30 năm trước có thể cho kết quả xấp xỉ 0. Kể từ khi bắt đầu chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường, mức độ tự do cũng như tốc độ tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc đã tăng một cách đều đặn và có vẻ như sẽ còn tăng nữa. Tuy nhiên, nhiều người chỉ ra rằng Chỉ số Tự do Kinh tế của Trung Quốc tăng rất ít trong giai đoạn 1995-2007, từ 52.1% đến 54%. Trong khi đó, cũng trong thời gian này, Ấn Độ có chỉ số tăng từ 46.4 % đến 55.6%.

Thậm chí, một số người còn nghi ngại rằng việc làm chậm lại quá trình cải cách kinh tế sẽ ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng. Những thập niên vừa qua cho thấy kinh tế thị trường đã chứng tỏ ưu thế so với kinh tế hỗn hợp hay kinh tế chỉ huy phần lớn là vì việc Nhà nước sở hữu và sự kiểm soát của các yếu tố sản xuất đã  cản  trở sự tăng trưởng. Mặc dù việc Nhà nước sở hữu và kiểm soát nền kinh tế có một vài lợi ích như hạn chế thất nghiệp và dễ phát triển các chương trình xã hội, nhưng thực tế đã cho thấy chúng thường khiến cho kinh tế hoạt động kém hiệu quả hơn.

Tương lai của nền kinh tế thị trường

Cho đến này, mô hình kinh tế hỗn hợp và kinh tế chỉ huy đã chứng tỏ tính kém hiệu năng của nó. Mặc dù trong ngắn hạn, nền kinh tế chỉ huy thường hoạt động tốt nhưng theo thời gian, những thế mạnh tiêu biểu của các nền kinh tế này như là nhân công rẻ, thuận lợi trong sản xuất quy mô lớn, dễ tiếp cận nguồn vốn , chi phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thấp… đều mờ nhạt dần do hệ thống quản lý và quy trình sản xuất ở các nước khác được cải thiện.

Thêm vào đó, do sự kết nối ngày càng tăng giữa các quốc gia, phạm vi kinh doanh quốc tế được mở rộng cho phép trao đổi hàng hoá, con người cũng như ý tưởng dễ dàng hơn. Những tiến triển này càng làm lộ rõ hơn những hạn chế cơ bản của nền kinh tế hỗn hợp và kinh tế chỉ huy. Rõ ràng, kiểm soát và sở hữu các yếu tố sản xuất của chính phủ hạn chế tính mạo hiểm của các công ty và các doanh nhân khi theo đuổi tri thức mới nhằm tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn.

Các nghiên cứu cho thấy kinh tế thị trường tạo ra những động lực to lớn kích thích đổi mới, trong khi kinh tế tập trung hay hỗn hợp chỉ tạo ra những động lực yếu kém hoặc thậm chí là không gì cả. Tuy nhiên, do thị trường toàn cầu chuyển từ kinh doanh công nghiệp sang kinh doanh tri thức, đổi mới trong các lĩnh vực đa dạng như chăm sóc sức khoẻ, truyền thông, phần mềm và giải trí đã trở thành động lực cho sự tăng trưởng lâu dài của một đất nước.

Phương thức chuyển dịch

Quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia lại khác nhau. Những bước chuyển dịch ở Ai-len, Thái Lan hay Mexico không giống với những bước chuyển dịch ở Trung Quốc, Brazil, Estonia, Việt Nam hay Ukraina. Dù sao đi nữa, trải nghiệm của những quốc gia này và nhiều quốc gia khác trong công cuộc tự do hóa thị trường đã hình thành một số biện pháp và nguyên tắc chung.

Đầu tiên và cũng là trên hết, bước chuyển từ nền kinh tế chỉ huy và hỗn hợp sang nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào thành công của chính phủ trong việc gỡ bỏ những yếu tố của kinh tế chỉ huy (như hệ thống quy hoạch tập trung) và xây dựng những yếu tố cơ bản cho kinh tế thị trường (như tính tự quyết của người tiêu dùng). Cụ thể hơn, thành công của sự chuyển dịch có liên hệ mật thiết với việc chính phủ giải quyết tư hữu hoá tư liệu sản xuất, dỡ bỏ quy định gò bó nền kinh tế (deregulate), bảo vệ quyền sở hữu, cải cách chính sách tài khoá và tiền tệ và áp dụng các quy định chống độc quyền.

hữu hoá

Một điều kiện cần nhưng không đủ để tạo dựng nền kinh tế thị trường, đó là nhà nước chuyển quyền sở hữu và kiểm soát về tư liệu sản xuất sang cho tư nhân qua quá trình tư nhân hoá (bán hoặc chuyển giao hợp pháp các nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước cho tư nhân). Tư hữu hoá là cần thiết, không chỉ đối với nâng cao hiệu quả chung của thị trường mà còn vì chỉ có một khu vực tư nhân vững mạnh mới có thể xây dựng được quan hệ cung cầu để dẫn tới những quyết định sản xuất và tiêu dùng đúng đắn hơn. Do đó, việc xây dựng nền kinh tế thị trường buộc chính phủ phải rút lui khỏi nền kinh tế bằng các tư hữu hoá các doanh nghiệp nhà nước.

Hơn nữa, tư hữu hoá giúp giảm nợ cho chính phủ bằng cách xoá bỏ nhu cầu trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả và thua lỗ. Trong dài hạn, tư hữu hoá làm tăng hiệu quả thị trường với triển vọng tư nhân có động lực để cải tiến công nghệ, phát triển và đổi mới hoạt động kinh doanh linh hoạt hơn so với các thương nhân do Nhà nước chỉ định. Có thể động lực chính ở đây là việc các công ty tư nhân phải cạnh tranh về nguyên vật liệu, nhân công, và vốn trong các thị trường mở. Do đó, các công ty tư nhân phải tự chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của họ

Cải cách quy định của Nhà nước:

Quá trình này bao gồm việc nới lỏng hoặc loại bỏ những giới hạn do Nhà nước đặt ra với hoạt động tự do của thị trường và doanh nghiệp. Mục đích của việc này là giúp các doanh nghiệp đạt năng suất cao hơn nhờ tiết kiệm thời gian và tiền bạc mà trước kia phải sử dụng để đáp ứng cho các quy định của Nhà nước, từ đó khuyến khích các nhà quản lý đầu tư cho đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bảo vệ quyền sở hữu

Bảo vệ quyền sở hữu có nghĩa là doanh nhân nào có ý tưởng đổi mới có quyền được hưởng lợi từ ý tưởng, nỗ lực và rủi ro của họ trong hiện tại cũng như tương lai. Sự bảo vệ này cũng hỗ trợ môi trường kinh tế cạnh tranh bằng cách đảm bảo cho các nhà đầu tư và các doanh nhân rằng chính họ, chứ không phải nhà nước, được hưởng lợi nhờ công sức của họ. Nếu thiếu sự bảo vệ này các công ty sẽ mất đi động lực để phát triển hoạt động kinh doanh của mình.

Đổi mới chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ

Các quyết định kinh tế do các nhà chính trị đưa ra thường khiến chính phủ áp dụng những chính sách thuế hoặc tiêu dùng làm tăng lãi suất, lạm phát và thất nghiệp. Áp dụng nghiệp vụ thị trường mở đòi hỏi chính  phủ phải dựa trên các công cụ có định hướng thị trường để ổn định kinh tế vĩ mô, đặt ra giới hạn ngân sách chặt chẽ, và sử dụng các chính sách dựa trên nền tảng thị trường để quản lý lượng cung tiền.

Thông thường, những biện pháp này sẽ gây nên những thách thức kinh tế trong ngắn hạn. Nhưng việc áp dụng biện pháp tài khoá hay tiền tệ theo định hướng thị trường sẽ tạo ra môi trường kinh tế hấp dẫn các nhà đầu tư, các công ty và tạo nguồn vốn cho phát triển.

Luật về chống độc quyền

Thị trường có thể tạo ra những tình huống mà chỉ một người bán hàng hoặc một nhà sản xuất có thể cung cấp một loại hàng hoá hay dịch vụ. Việc một công ty được kiểm soát nguồn cung của một sản phẩm, và do đó, kiểm soát giá, được gọi là độc quyền. Môi trường kinh doanh độc quyền gây ra là phản đề của tự do hóa thị trường. Vì vậy, muốn tự do hoá một hệ thống kinh tế chính phủ phải đưa ra luật chống độc quyền để khuyến khích việc có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong một ngành nghề. Nhờ vậy, giá cả sẽ được giữ ở mức thấp do sức ép của cạnh tranh. Bằng cách thông qua luật chống độc quyền, các chính phủ có thể ngăn chặn nạn độc quyền, không để các công ty độc quyền bóc lột người tiêu dùng cũng như kìm hãm thị trường phát triển.

Thực tế về những thành công của các quốc gia đã chuyển đổi thành công từ nền kinh tế chỉ huy và hỗn hợp sang nền kinh thế thị trường đã gây ấn tượng mạnh mẽ trên toàn thế giới. Ví dụ, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu kinh tế lớn nhờ tiến trình chuyển đổi của mình. Hiện nay Trung Quốc trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong suốt 30 năm qua và đang nỗ lực để thoát khỏi đói nghèo. Tiến trình chuyển đổi nền kinh tế tại những quốc gia khác như Ireland, Brazil, và Ấn Độ cũng đã đem lại sự thịnh vượng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.

Từ những thành công này, có thể tin rằng nhiều quốc gia khác cũng sẽ mong muốn tham gia vào tiến trình chuyển đổi. Tuy nhiên, chúng ta không thể kì vọng vào một quá trình chuyển đổi dễ dàng. Một số quốc gia đã gặp khó khăn khi xử lý những vấn đề chính trị xã hội bắt nguồn từ tiến trình này. Do đó, một số nhà kinh tế đang đặt ra câu hỏi: “Liệu kinh tế thị trường có thực sự là giải pháp tốt nhất để đạt được sự phồn vinh trong tương lai?