Cơ cấu các khoản chi ngân sách nhà nước

Cơ cấu các khoản chi ngân sách nhà nước
4 (80%) 1 vote

 

1 Chi đầu tư phát triển:

Việc phân biệt chi đầu tư phát triển trong cơ cấu các khoản chi ngân sách nhà nước là căn cứ vào mục đích kinh tế-xã hội của việc sử dụng các khoản chi ngân sách nhà nước. Theo đó, các khoản chi ngân sách nhà nước được phân biệt thành 2 nhóm lớn: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Trong đó, chi đầu tư phát triển mang tính chất của khoản chi tích luỹ. Chi thường xuyên còn được hiểu là chi có tính chất tiêu dùng.

Chi có tính chất tích lũy hay còn gọi là chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, gắn liền với việc xây dựng, mở rộng cơ sở hạ tầng kinh tế. Có thể nói, chi đầu tư phát triển là khoản chi tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, nhằm phát triển năng lực sản xuất, tăng tích luỹ tài sản của nền kinh tế quốc dân. Việc nhà nước thực hiện chi đầu tư phát triển chính là việc ngân sách nhà nước bỏ vốn vào các hoạt động kinh tế xã hội để hướng đến những lợi ích kinh tế xã hội lớn hơn trong tương lai. Đây là những khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhưng ít phát sinh lợi ích ngay lập tức. Điều này làm cho các khoản chi đầu tư phát triển ít thu hút tư nhân tham gia đầu tư. Chính vì vậy mà vai trò của nhà nước rất quan trọng trong việc thực hiện các khoản chi này. Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng, chi đầu tư phát triển thường có những khoản chi lớn hay được kể đến là:

-Chi đầu tư xây dựng cơ bản. Khoản chi này được ngân sách nhà nước dùng để chi cho việc đầu tư, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội mà không có khả năng thu hồi vốn. Khoản chi này nhằm đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.

-Chi đầu tư, hỗ trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, lĩnh vực quan trọng mà cần thiết phải có sự tham gia của nhà nước Nhà nước. Những khoản chi này góp phần quan trọng để nhà nước thực hiện vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội theo đúng múc tiêu đã đề ra trong từng thời kỳ.

-Chi dự trữ Nhà nước là khoản chi để mua hàng hoá, vật tư dự trữ nhà nước có tính chiến lược của quốc gia hoặc hàng hoá, vật tư dự trữ mang tính chuyên ngành.

-Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình, mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước chẳng hạn như cho chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch nông thôn, phủ xanh đồi trọc…

Chi đầu tư phát triển có những đặc điểm như sau:

-Chi đầu tư phát triển là khoản chi lớn như không có tính ổn định do thứ tự và tỉ trọng ưu tiên trong chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước cho từng nội dung chi, từng lĩnh vực kinh tế xã hội ở mỗi giai đoạn là khác nhau.

-Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

2 Chi thường xuyên:

So với nhóm các khoản chi có tính chất tích lũy hay còn gọi là chi đầu tư phát triển, nhóm các khoản chi có tính chất tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn. Chi thường xuyên của ngân sách nhà nước thể hiện quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ ngân sách nhà nước để đáp ứng cho các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước. Chi thường xuyên bao gồm 4 nhóm chi chủ yếu được xác định:

– Chi cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng: bao gồm chi quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước ở các cấp. Nhà nước ngày càng có xu hướng giảm thiểu đến mức tối đa có thể được các khoản chi năm trong nhóm này, nhằm mục đích tăng thu và tiết kiệm chi cho ngân sách nhà nước, tiến đến tinh gọn bộ máy quản lý hành chính nhà nước các cấp sao cho hiệu suất làm việc đạt mức cao nhất.

– Chi cho các hoạt động sự nghiệp: Bao gồm chi cho các hoạt động kinh tế, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, đào tạo, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, trợ cấp chính sách xã hội và bảo hiểm xã hội… Chi hỗ trợ cho hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội, chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp…Đây là nhóm chi chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số chi có tính chất tiêu dùng của ngân sách Nhà nước.

– Chi cho quốc phòng và an ninh: Là khoản chi hết sức cần thiết của quốc gia, nhăm bảo đảm điều kiện vật chất cho sự nghiệp quốc phòng, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

– Chi khác: bao gồm chi trợ giá theo chính sách của nhà nước, phần chi thường xuyên trong các chương trình, mục tiêu quốc gia.

Chi thường xuyên có đặc điểm sau:

-Những khoản chi thường xuyên có tính chất ổn định, bởi vì, có nhiều chức năng của nhà nước là không thay đổi như chức năng bảo vệ công dân, chức năng quản lý kinh tế. Mặt khác, nhà nước luôn phải đảm bảo những khoản chi mang tính chất ổn định mà không phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội thay đổi, chẳng hạn như khoản chi lương của công chức, viên chức.

-Các khoản chi thường xuyên có hiệu lực tác động trong thời gian ngắn và mang tính tiêu dùng xã hội. Chi thường xuyên chủ yếu đáp ứng cho các nhu cầu chi để thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước về quản lý kinh tế xã hội trong từng năm ngân sách. Đây là khoản chi chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước, quốc phòng an ninh, các hoạt động sự nghiệp..

-Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước gắn liền với cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong việc cung ứng các hàng hoá công cộng. Một quốc gia với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước càng gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả thì khoản chi thường xuyên càng được tiết kiệm và ngược lại.

-Chi thường xuyên cần được quản lý theo dự toán và được sử dụng theo nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả. Trong quá trình phân bổ và lập kế họach chi để đưa vào trong dự toán phải luôn tính toán sao cho chi phí ít nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả tốt nhất Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi nhận vào dự toán và được cơ quan quyền lực nhà nước thông qua sẽ được xem là chỉ tiêu pháp lệnh. Các đơn vị quản lý tài chính và chủ thể thụ hưởng ngân sách nhà nước có nghĩa vụ chấp hành tuyệt đối. Yêu cầu này nhằm hướng đến việc đảm bảo mục tiêu cân đối ngân sách nhà nước.

Bên cạnh đó, chi ngân sách nhà nước còn bao gồm chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư, chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính và chi bổ sung cho ngân sách nhà nước cấp dưới.

3 Chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư:

Khoản nợ gốc thực chất đó là số tiền nhà nước đã vay của các chủ nợ trong và ngoài nước đến hạn phải thanh toán. Chi trả nợ bao gồm:

-Trả nợ trong nước: đây là những khoản nợ mà nhà nước đã vay của các tầng lớp dân cư, đoàn thể xã hội, tổ chức thông qua hình thức phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu, công trái…). Ở đây, Chính phủ là chủ thể đứng ra vay và phải đảm bảo thanh toán đầy đủ, đúng hạn cả gốc, lãi cho người chủ sở hữu công trái, trái phiếu của Chính phủ. Việc thanh toán chi trả sẽ đựoc thực hiện tại kho bạc nhà nước. Nguồn vốn thanh toán sẽ do ngân sách nhà nước đảm nhận. Cụ thể là, ngân sách nhà nước ở trung ương có trách nhiệm chi trả các loại giấy tờ có giá phát hành phục vụ cho các công trình trung ương. Hàng năm, Bộ Tài chính có trách nhiệm lập kế hoạch thanh toán trái phiếu trình Chính phủ phê duyệt và đưa vào dự toán ngân sách nhà nước. Căn cứ vào kế hoạch được duyệt, cơ quan tài chính chuẩn bị nguồn vốn để kho bạc nhà nước thanh toán trái phiếu, công trái đến hạn. Trường hợp công trái, trái phiếu đã đến hạn thanh toán mà chủ sở hữu chưa đến thanh toán thì trái phiếu, công trái đó sẽ được bảo lưu cả gốc lẫn lãi trong thời gian phát hành và được hưởng lãi suất ngang bằng lãi suất gửi tiết kiệm không kỳ hạn.

Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2002, ngân sách địa phương cũng có thể được bổ sung bằng nguồn vốn thu đựoc từ việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương. Về nguyên tắc, ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu. Trường hợp ngân sách cấp tỉnh có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh năm dự toán thì ngân sách cấp tỉnh đó được phép huy động vốn trong nước bằng việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương. Việc huy động vốn bằng hình thức này phải tuân thủ yêu cầu cân đối ngân sách cấp tỉnh hàng năm để chủ động trả hết nợ khi đến hạn. Mức tổng dư nợ từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh.

-Trả nợ nước ngoài: đây là những khoản nợ nước ngoài mà nhà nước đã vay của chính phủ các nước, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế. Chính phủ sẽ lập kế hoạch trả nợ theo hàng năm và kế hoạch trả nợ 5 năm. Hàng năm, Bộ Tài chính có trách nhiệm lập kế hoạch tổng hạn mức trả nợ nước ngoài của Chính phủ trình lên cho Chính phủ duyệt. Thủ tướng Chính phủ sẽ uỷ quyền cho Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ theo hạn mức được duyệt. Nguồn vốn để thanh toán nợ nước ngoài do ngân sách trung ương đảm nhận. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm bố trí nguồn vốn hàng năm theo kế hoạch được duyệt để trả nợ nước ngoài khi đến hạn. Việc trả nợ theo kế hoạch có thể được tiến hành theo phương thức trả nợ thông qua hàng hoá hoặc bằng tiền.

Theo xu hướng đổi mới chính sách tài chính quốc gia, quan điểm mới về cân đối ngân sách và bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. Các khoản vay trong nước, nước ngoài của Chính phủ đều phải được thực hiện cho mục đích đầu tư và phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế. Đối với vốn vay để đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước tiến hành cấp phát vốn và thực hiện thu hồi vốn thông qua tu phí, giá dịch vụ. Đồng thời, nhà nước sẽ là chủ thể trực tiếp trả nợ. Đối với vốn cho vay mục đích đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà nước là người vay sau đó sẽ cho tổ chức kinh tế trong nước vay lại. Các tổ chức này sau một thời gian nhất định và với một tỷ lệ lãi suất được xác định trên thị trường vốn ở trong nước, phải hoàn trả số vốn vay cho nhà nước để nhà nước thanh toán nợ cho chủ thể đã cho vay.

4 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính:

Quỹ dự trữ tài chính của quốc gia là khoản tích luỹ từ ngân sách nhà nước, hình thành nên nguồn dự trữ chiến lược do nhà nước thống nhất quản lý và sử dụng. Quỹ dự trữ quốc gia được sử dụng với 2 mục đích:

-Nhằm tạm ứng cho ngân sách nhà nước trong trường hợp ngân sách nhà nước cần thực hiện nhu cầu chi để đảm bảo nhiệm vụ, yêu cầu kinh tế xã hội của quốc gia nhưng nguồn thu cho ngân sách nhà nước chưa tập trung kịp. Trường hợp quỹ dự trữ tài chính tạm ứng cho ngân sách nhà nước thì ngân sách nhà nước phải hoàn trả trong năm ngân sách.

-Nhằm xử lý cân đối ngân sách nhà nước. Việc sử dụng quỹ dự trữ tài chính cho mục đích xử lý cân đối ngân sách được thể hiện trong các trường hợp như: cần nguồn ngân sách nhà nước để phòng chống, khắc phục hậu quả của thiên tai, tai nạn trên diện rộng, thực hiện các nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng an ninh, hoặc các nhiệm vụ cần thiết, cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán để tránh không làm ảnh hưởng, xáo trộn đến sản xuất, đời sống xã hội. Ngoài ra, nếu nguồn thu ngân sách nhà nước, kể cả từ vay nợ nhằm mục đích bù đắp bội chi cho ngân sách nhà nước không đạt mức bội chi mà dự toán ngân sách nhà nước đã tiên liệu theo quyết định của cơ quan quyền lực ở trung ương và địa phương, trường hợp này quỹ dự trữ tài chính sẽ được sử dụng nhằm đảm bảo yêu cầu cân đối ngân sách trong năm ngân sách.

Quỹ dự trữ quốc gia được hình thành từ ngân sách nhà nước, do cơ quan quyền lực cao nhất (Quốc hội) quyết định. Quỹ dự trữ quốc gia được quản lý chuyên trách bởi Cục dữ trự quốc gia-một cơ quan được tổ chức theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương. Hàng năm, ngân sách nhà nước sẽ bố trí những nguồn tăng thu từ ngân sách nhà nước, thu kết dư và dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm (tối đa không vượt quá 25% tổng dự toán chi) để bổ sung cho quỹ dự trữ tài chính.

Về thẩm quyền quyết định sử dụng quỹ dự trữ tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài chính  hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định đối với việc tạm ứng cho ngân sách nhà nước từ quỹ dự trữ tài chính. Trường hợp xử lý cân đối ngân sách, đối với quỹ dự trữ tài chính ở trung ương, Thủ tướng Chính phủ sẽ có thẩm quyền quyết định. Đối với quỹ dự trữ tài chính ở địa phương sẽ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Nếu không xét đến trường hợp tạm ứng từ quỹ dự trữ tài chính phải được hoàn trả ngay trong năn ngân sách, việc sử dụng quỹ dự trữ tài chính cho các mục đích khác cần phải đảm bảo yêu không bảo toàn số dư của quỹ dự trữ tài chính. Theo đó, không được sử dụng vượt quá 30% số dư của Quỹ dự trữ tài chính tại thời điểm bắt đầu năm ngân sách.

Ngoài ra, quỹ dự trữ tài chính phân biệt với quỹ dự phòng ngân sách-một khoản chi được bố trí từ nội dung chi đầu tư phát triển.

5 Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới:

Mục đích của khoản chi này nhằm đảm bảo tính công bằng, yêu cầu phát triển cân đối giữa các vùng địa phương. Luật Ngân sách nhà nước 2002 đã có sự mở rộng hơn so với trước đây. Trước khi Luật Ngân sách nhà nước 2002 có hiệu lực, ngân sách cấp trên chỉ được phép bổ sung cho ngân sách nhà nước cấp dưới để đảm bảo yêu cầu cân đối thu chi cho cấp ngân sách được thụ hưởng. Hình thức cho bổ sung này đựơc gọi là cho bổ sung để cân đối ngân sách và thể hiện tính chất tài trợ vô điều kiện. Hiện nay, loại hình chi bổ sung cân đối thu, chi này vẫn được duy trì nhằm tạo đìêu kiện cho chính quyền cấp dưới cân đối nguồn ngân sách để hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh được giao. Ngoài ra, pháp luật ngân sách nhà nước hiện hành còn cho phép ngân sách cấp trên chi bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới để hỗ trợ một phần cho những cấp ngân sách có khó khăn khi phát sinh các nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết mà sau khi đã tận dụng mọi khả năng về kinh phí của cấp mình chẳng hạn như đã sử dụng nguồn quỹ dự phòng, quỹ dự trữ tài chính mà vẫn chưa đáp ứng được.[1] Hình thức chi bổ sung có mục tiêu mang bản chất của những khoản tài trợ bất đối ứng.


[1] Xem điểm 4 Mục II Thông tư 59/2003/TT-BTC 23-6-03 Hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/ NĐ-CP 06-06-2003 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • chi cho quản lý hành chính nhà nước không được tính vào khoảng chi thường xuyên ngân sách
  • khoản chi chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu chi hàng năm của ngân sách nha nước
  • ,