Cơ cấu các mặt hành xuất khẩu ở Việt Nam

 

Như vậy, trong 8 tháng đầu 2007, dầu thô xuất khẩu giảm 4.8% về số lượng, giá dầu thô cũng giảm khoảng 18 USD/ tấn (khoảng 3.6%) làm cho kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này giảm đến 11.80% so với 8 tháng đầu năm ngoái. Sự sụt giảm xuất khẩu dầu thô đã kéo tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chung cả nước xuống thấp trong 8 tháng đầu năm 2007.

Tuy nhiên , các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác đều có tín hiệu khả quan như: cà phê, tiêu, điều, dệt may và các sản phẩm gỗ. Trong đó, xuất khẩu cà phê tăng mạnh do nhu cầu và giá cà phê trên thế giới đang có xu hướng tăng mạnh. Tiếp đến là mặt hàng hạt tiêu và hạt điều, tuy có kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn,và giảm đến 43.1% về lượng nhưng tốc độ tăng trưởng hạt tiêu lại vượt xa so với chỉ tiêu đề ra vì nguồn cung của Việt Nam đang khan hiếm nên giá có xu hướng tăng. Năm 2006, Việt Nam là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất trên thị trường thế giới, chiếm đến 50% tổng số lượng giao dịch lên 200.000 tấn trên toàn cầu.

Kim ngạch nhập khẩu tháng 7/2007 tăng 1,8% (gần 100 triệu USD) so với tháng 6/2007.

Tính chung 7 tháng đầu năm 2007, KNNK đạt 32,2 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm 2006. Trong đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI ước đạt 11,42 tỷ USD, tăng 26,3%; nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước là 20,82 tỷ USD, tăng 31,8%. Đa số các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm 2006. Trong đó: nhập khẩu xăng dầu tăng 12%, sắt thép tăng 24,3%, phân bón tăng 14%, máy móc thiết bị tăng 42,2%, vải tăng 32%, tân dược tăng 22,5%.

Về thị trường nhập khẩu, 5 đối tác lớn nhất xuất khẩu hàng hoá vào Việt Nam là Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc. KNNK từ 5 thị trường này chiếm trên 50% tổng KNNK của cả nước;

– Nhập siêu hàng hoá trong 7 tháng đầu năm ước đạt 5,45 tỷ USD, bằng 20,3% tổng KNXK.