Cơ cấu nguồn vốn theo quan hệ sở hữu của các công ty cổ phần ngành điện niêm yết ở việt nam

Để phân tích cơ cấu nguồn vốn theo quan hệ sở hữu, tác giả sử dụng các chỉ tiêu sau: (i) Quy mô nợ vay; (ii) Quy mô vốn chủ sở hữu; (iii) Hệ số nợ vay; (iv) Hệ số vốn chủ sở hữu.

Biểu đồ 2.5 cho thấy quy mô nợ vay có xu hướng giảm dần và quy mô vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng dần trong giai đoạn nghiên cứu. Quy mô nợ vay giảm từ mức 23.342.650 triệu đồng năm 2012 xuống còn 17.977.720 triệu đồng năm 2014, duy trì ổn định ở mức bình quân là 18.082.910 triệu đồng trong giai đoạn 2014-2016 và giảm mạnh xuống 10.014.094 triệu đồng năm 2017. Quy mô vốn chủ sở hữu tăng từ mức 17.289.350 triệu đồng năm 2012 lên 22.224.119 triệu đồng năm 2014 và duy trì ổn định ở mức bình quân là 22.712.456 triệu đồng trong giai đoạn 2014-2017. Hệ số nợ vay giảm từ mức 57,54% năm 2012 xuống còn 44,72% năm 2014, duy trì ổn định ở mức 44,40% trong giai đoạn 2014-2016 và giảm xuống mức 30,40% năm 2017. Hệ số  vốn chủ sở hữu tăng từ mức 42,55% năm 2012 lên mức 55,28% năm 2014, duy trì ổn định ở mức bình quân là 55,60% trong giai đoạn 2014-2016 và tăng lên mức 69,60% năm 2017.

Đối với nhóm CTCP quy mô lớn (Phụ lục 5): Quy mô nợ vay giảm từ mức 20.154.974 triệu đồng năm 2012 xuống 14.834.048 triệu đồng năm 2014, duy trì ổn định ở mức bình quân là 14.927.555 triệu đồng trong giai đoạn 2014- 2016 và giảm xuống mức 6.986.274 triệu đồng năm 2017. Quy mô vốn chủ sở hữu tăng từ mức 11.627.586 triệu đồng năm 2012 lên 15.561.753 triệu đồng năm 2014, duy trì ổn định ở mức 15.863.333 triệu đồng trong giai đoạn 2014- 2017. Hệ số nợ vay giảm từ mức 63,42% năm 2012 xuống 48,80% năm 2014, duy trì ổn định ở mức bình quân là 44,01% trong giai đoạn 2014-2016 và giảm xuống 30,45% năm 2017. Hệ số vốn chủ sở hữu tăng từ mức 36,58% năm 2012 lên 51,20% năm 2014, duy trì ổn định ở mức 55,99% trong giai đoạn 2014- 2016 và tăng lên mức 69,55% năm 2017. Trong giai đoạn 2012-2014, nợ vay của NT2 giảm từ 9.340.907 triệu đồng xuống còn 6.912.254 triệu đồng; nợ vay của PPC giảm từ 6.932.118 triệu đồng xuống còn 4.409.112 triệu đồng. Trong giai đoạn 2016-2017, nợ vay của NT2 giảm từ 4.782.871 triệu đồng xuống còn 3.697.772 triệu đồng; nợ vay của PPC giảm từ 4.207.393 triệu đồng xuống còn 950.123 triệu đồng; nợ vay của VSH giảm từ 3.035.207 triệu đồng xuống còn 11.085 triệu đồng.

Đối với nhóm CTCP quy mô trung bình (Phụ lục 5): Quy mô nợ vay duy trì ổn định trong giai đoạn nghiên cứu ở mức bình quân là 2.402.955 triệu đồng. Quy mô vốn chủ sở hữu tăng từ mức 3.634.888 triệu đồng năm 2012 lên 4.354.231 triệu đồng năm 2014 và duy trì ổn định ở mức 4.469.246 triệu đồng trong giai đoạn 2014-2017. Hệ số nợ vay và vốn chủ sở hữu bình quân giai đoạn nghiên cứu lần lượt là 36,21% và 63,29%.

Đối với nhóm CTCP quy mô nhỏ (Phụ lục 5): Quy mô nợ vay và vốn chủ sở hữu duy trì ổn định trong giai đoạn nghiên cứu. Quy mô nợ vay bình quân là 769.772 triệu đồng; quy mô vốn chủ sở hữu bình quân là 2.276.970 triệu đồng. Hệ số nợ vay bình quân là 25,21%; hệ số vốn chủ sở hữu bình quân là 74,79%.