Cơ cấu sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

Chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, tiến hành hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, trước hết là điều chỉnh các hình thức sở hữu vốn có, là kết hợp một cách tối ưu các lợi ích: Lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích của nhà nước. Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần không phải là”thụt lùi” không làm “Mất CNXH” như một số người lầm tưởng mà chính là một chủ trương lớn để khai thác, phát huy mọi tiềm năng của toàn xã hội cũng như tranh thủ các nước và các tổ chức quốc tế. Cơ sở lý luận của việc xác lập tính đa dạng các hình thức sở hữu thể hiện ở luận điểm của C.Mác và Ănghen cho rằng các hình thức sở hữu đựơc xác lập bởi trình độ xã hội hoá sản xuất. Vì vậy, chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đa dạng hoá sở hữu là một thành tựu lớn cả về lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới.
Với những thành tựu đáng mừng về kinh tế – xã hội của đất nước ta sau hơn 10 năm đổi mới đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, hợp lý. Thực tế cũng cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đương nhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu để phù hợp với tính chất đặc điểm của từng thành phần kinh tế và phù hợp cũng như khai thác, thúc đẩy được các yếu tố của lực lượng sản xuất ở các trình độ khác nhau phát triển. Khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nứơc ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật thể chế hoá về sở hữu phản ánh trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất nước ta còn thấp không đồng đều. Vì thế ứng vói nó là các hình thức sở hữu đa dạng. Bởi vì: phát triển nền kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh là mục đích cuối cùng của chế độ xã hội ta. Trong phạm vi hẹp có thể coi sở hữu là một trong những phương tiện để đạt mục tiêu này và bước đầu thực hiện CNH, HĐH đất nước (văn kiện hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII 1/1994) vai trò của mỗi hình thức sở hữu trong một chế độ sở hữu có ý nghĩa và tác dụng khác nhau trong nền kinh tế quốc dân. Điều 15, hiến pháp 1992, quy định”cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu ta nhân trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Ta lần lượt xem xét xu hướng vận động và biến đổi của các hình thức sở hữu, ở nước ta hiện nay.

a. Sở hữu toàn dân: ở nứơc ta hiện nay, hiến pháp 1992 và luật đất đai đã quy định rõ:

Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biên, thềm lục địa và vùng trời… Các tài sản khác mà pháp luật quy định là của nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”. Xét về mặt kinh tế, đất đai là phương tiện tồn tại cơ bản của một cộng đồng người. Xét về mặt xã hội, đất đai là lãnh thổ. Nhưng xét cả hai phương diện, có thể nói đất đai không thể là đối tượng sở hữu của riêng ai.
Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện sở hữu và quản lý không hề mâu thuẫn với việc trao quyền cho các hộ nông dân, kể cả các quyền được chuyển nhượng, quyền sử dụng đất đai lâu dài ổn định. Việc tách hết quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai này nếu biết giải quyết sẽ đem lại sức bật cho lực lượng sản xuất phát triển.
Văn kiện đại hội III của Đảng ta đã chỉ rõ:”Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất thu được giao cho nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước qui định bằng pháp luật, các vấn đề thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất…”. Như vậy, sở hữu toàn dân ở nước ta hiện nay đã được xác định theo nội dung mới, có nhiều khả năng để trở thành nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội.

b. Về sở hữu nhà nước:

Trong thời kỳ bao cấp trước đây chúng ta đã đồng nhất sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy, có thời gian dài người ta bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước, chỉ quan tâm đặc biệt tới hình thức sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Và cũng bởi vì sở hữu toàn dân gắn kết với sự phát triển của kinh tế quốc doanh. Vì vậy mà chúng ta đã ra sức quốc doanh hoá nền kinh tế với niềm tin cho rằng có như vậy mới có CNXH nhiều hơn.
Trong một xã hội mà nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa có điều kiện vận động trên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu nhà nước, xét về tổng thể mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu nhà nước ở nước ta, có lẽ thể hiện chủ yếu ở khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực của doanh nghiệp nhà nước.

c. Sở hữu hợp tác:

ở nước ta trước đây, hình thức này chủ yếu tồn tại dưới hình thức HTX, với nội dung là cả giá trị và giá trị sử dụng của đối tượng sở hữu đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu. Chính vì vậy mà với hình thức này quyền mua bán hoặc chuyển nhượng TLSX diễn ra rất phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thường hạn chế, song lại có tình trạng lạm quyền. Sự không xác định, sự “nhập nhằng” với quyền sở hữu nhà nước và với sở hữu tư nhân trá hình cũng phổ biến. Để hoạt động ra khỏi tình trạng đó, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay thì phải định rõ quyền mua bán chuyển nhượng tư liệu sản xuất đối với các tập thể sản xuất – kinh doanh. Chỉ như vậy, sở hữu tập thể mới trở thành hình thức sở hữu có hiệu quả.

Hình thức sở hữu hợp tác là một hình thức tiến bộ trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Vì vậy, cần phải duy trì và phát triển hơn nữa hình thức này khi xây dựng CNXH, như Lênin nói “chế độ của những xã viên HTX văn minh là chế độ XHCN”.
Hợp tác xã là nhu cầu thiết thân của kinh tế hộ gia đình, của nền sản xuất hàng hoá. Khi lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn, công nghiệp nhỏ phát triển tới một trình tự nhất định nó sẽ thúc đẩy quá trình hợp tác. Nhu cầu về vốn, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm… đòi hỏi các hộ sản xuất phải hợp tác với nhau mới có khả năng cạnh tranh và phát triển. Chính điều đó đã làm liên kết những người lao động lại với nhau và làm nảy sinh quan hệ sở hữu tập thể.Thực tiễn cho thấy đã có những hình thức HTX kiểu mới rađời do nhu cầu tồn tại và phát triển trong thị trường. Điều này cho thấy kết cấu bên trong của tập thể đã thay đổi phù hợp với nước ta hiện nay.

d, Sở hữu cá thể:

ở nước ta hình thức này tồn tại chủ yếu dưới hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ. trước đây kinh tế cá thể, tiểu chủ ở nước ta có tính chất tự cấp, tự túc, lại bị trói buộc bởi cơ chế quản lý. Hiện náy nó đang được khuyến khích phát triển và đang có xu hướng phát triển thuận lợi . kinh tế cá thể có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế hợp tác xã, vì thế hình thức sỡ hữu cá thể cũng có quan hệ khăng khít với hình thức sở hữu hợp tác. kinh tế cá thể, tiểu chủ có điều kiện phát huy nhanh và có hiệu quả tiềm năng về vốn, Sức lao động, tay nghề của từng nhóm, từng người dân. Tại đai hội VIII , Đảng ta đã nêu rõ: Kinh tế cá thể ,tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dầi. Giúp đỡ kinh tế chính trị, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, khoa học và công nghệ, về thương trường tiêu thụ sản phẩm. Hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã.
Chúng ta đều biết kinh tế cá thể, tiểu chủ về thực chất là thành phần kinh tế sản xuất nhỏ. Nó dựa trên sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và về lao động của bản thân và cho đén nay nó vẫn được coi là sở hữu cá nhân. Thứ sở hữu có nhân đó không phải là một chế độ sở hữu độc lập. Bởi thế, nó không thể tạo ra quan hệ sản xuất, hoặc đại diện cho 1 quan hệ sản xuất mà chỉ là kết quả tất yếu của quan hệ sản xuất đâng tồn tại thành phần kinh tế này cũng luôn chịu sự tác động trên nhưng quy luật kinh doanh và luôn bị phân tán vì thế cần phải có biện pháp kinh tế để tại đây phóng dần và các biến nó theo dịnh hướng xã hội chủ nghĩa.

e, Sở hữu tư bản tư nhân:

Ở nước ta kinh tế tư bản tư nhân đang hình thành phát triển. Đây là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tự nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sở hữu tư bản tư nhân, bao gồm cả doanh nghiệp của các nhà tư sản và các đơn vị kinh tế mà phần lớn. Vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, thuê lao động sản xuất- kinh doanh dưới hình thức xí nghiệp tư doanh hay công ty cổ phần tư nhân. Nó cũng bao gồm cả hình thức kinh tế tư bản tư nhân nước ngoài đầu tư 100% vốn hoặc nắm giữ tỷ lệ vốn khống chế. Trong thời kỳ quá độ phát triển sản xuất TBCN không còn nguyên vẹn nữa. Bởi thế, kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta chỉ hoạt động với tư cách là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần, được Bác hô quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp.

+ Sở hữu hỗn hợp.

Sở hữu hỗn hợp là hình thức sở hữu cơ chế tham gia của nhiều loại chủ thể khác nhau về tính chất. Có thể nói đây là loại hình kinh tế chung gian, có T/C đem xem giữa thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Hiện nay ở nước ta có ba loại chủ thể kết hợp với nhau thành hình thức sở hữu hỗn hợp. Đó là Nhà nước, tập thể và tư nhân để tạo nên các dạng sử hữu sinh động như: Nhà nước và nhân dân Nhà nước và tập thể; Nhà nước ; tập thể và tư nhân; tập thể và tư nhân v.v…. Thực chất đây là các xí nghiệp (hoặc công ty) cổ phần. Đó là các hình thức tổ chức kinh tế không thuộc hẳn vào một thành phần kinh tế nào.

Hiên nay chúng ta còn phải sử dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước hay hình thức tư bản Nhà nước làm phương tiện và cứu cách để phát triển. Bởi vì chủ nghĩa tư bản Nhà nước theo Lê -nin là một hình thức phổ biến trong TKQĐ và sự tồn tại của nó là cần thiết: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mỗi hình thức sở hữu nói trên có vị trí và vai trò riêng của chúng. Địa vị lịch sử của chúng phụ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ quản lý, vào tiến trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt trong thời gian này, Nhà nước ta tiến hành cổ phần hoá đa dạng hoá ở hữu mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài hoặc doanh nghiệp không thuộc loại Nhà nước độc quyền lắm giữ, ngay cả các doanh nghiệp của Tổng công ty 90, Tổng công ty 91.