Cơ chế hoạt động công ty mẹ công ty con

- Cơ chế hoạt động của công ty mẹ và công ty con:

+ Quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con:

Quan hệ chi phối nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết; hoặc nắm giữ quyền chỉ định đa số thành viên hội đồng quản trị ; hoặc giữ quyền biểu quyết đa số trong hội đồng quản trị .

Quan hệ “tình mẫu tử”: là quan hệ được xây dựng bằng tinh thần doanh nghiệp
Theo ghi nhận hiện nay tại nhiều quốc gia trên thế giới trung bình cứ 5 hoặc 7 dân thì có 1 doanh nghiệp. Tỷ lệ này ở Việt Nam là hơn 1000.Từ đó ta hiểu được doanh nghiệp là sản phẩm của con người vận mệnh tốt sấu mà doanh nghiệp có được phụ thuộc vào con người. Việc sinh tử của nó cũng hoàn toàn do con người định đoạt, quá trình tồn tại của nó rất trật vật, Yêu cầu phải cạnh tranh để sinh tồn nó được phát sinh ngay từ khi doanh nghiệp mới được thành lập, càng gay gắt hơn. Cuộc cạnh tranh này cần sự động não của các nhà quản lý doanh nghiệp, ở đây bắt đầu có sự chọn lọc quá trình chọn lọc được xem như là không có điểm rừng vì luôn có nhân tố mới gia nhập công ty như một “động cơ vĩnh cửu” không được nghỉ ngơi dừng lại, Không được già đi năng lượng mà công ty nhận được trên đường chạy vượt thời gian đó là trí tuệ con người. Các doanh nghiệp đã phát triển lớn mạnh muốn mở rộng quy mô và tầm hoạt động thường được cấu trúc thành bối cảnh mẹ con. Theo đó công ty mẹ lắm quyền kiểm soát một hay nhiều công ty khác bằng cách lập ra một hoặc cho thuê tài sản hay mua lại cổ phần để sở huữu một công ty nào đó. Mối quan hệ công ty mẹ công ty con rất có hiệu quả. Công ty mẹ cũng không phải là một loại hình gì khác mà chỉ là một doanh nghiệp bình thường và cũng như công ty con vì quyền kiểm soát cũng theo một mức quy định không có vai trò chủ khoản.

Sự chi phối trên còn được thể hiện trên lĩnh vực kinh tế. Quan hệ giữa công ty mẹ công ty con không phải là một mô hình tổ hức. Nó được dùng đẻ thể hiện sự chi phối (hoặc lệ thuộc) của một doanh nghiệp với doanh nghiệp khác. Vì không phải là một mô hình tổ chứcnên nó không bị cân nhắc với các quyết định của bất cứ cấp hành chính nào. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được xác định trong quy định của luật pháp và điều lệ của công ty, nó tương đối ổn định. Song việc hình thành công ty mẹ công ty con lại rất linh hoạt. Một công ty hôm nay còn là công ty con của một công ty khác song ngày mai chỉ là công ty liên kết hợc hoàn toàn độc lập với công ty mẹ, và có thể trở thành công ty mẹ của công ty khác. Tất cả những sự thay đổi đó không cần bất cứ một quyết định nào của các cấp hành chính. Tất nhiên việc mua bán, sát nhập, chia tách này nếu được quyết định của doanh nghiệp thì cần có ý kiến của chủ sở hữu. Song nó không phải là quyết định mang tính chất tài chính. Việc hình thành công ty mẹ công ty con đương nhiên hình thành các tập doàn kinh tế nó đơn thuần chỉ là một tổ hợp gồm cong ty mẹ công ty con. Tập đoàn có thể là nhỏ hoặc lớn tuỳ theo vị trí công ty mẹ vàcác công ty con trong nền kinh tế. Tập đoàn có thể chỉ hoạt động trong một địa phương, song có thể hoạt động trong một vùng, trong cả nước. Để có một tập đoàn kinh tế mạnh thì phải cần có một công ty mẹ thực sự mạnh trên tất cả các mặt: vốn liếng, công nghệ, lĩnh vực hoạt động…đủ đẻ dữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Không có công y mẹ mạnh thìkhông thể có tập đoàn kinh tế mạnh.
sự chuyển đổi và hoạt động của mô hình công ty mẹ công ty con tại Việt Nam:

+ Sự chuyển đổi tổng công ty nhà nước thành công ty mẹ công ty con.

Dùng từ “chuyển” ở đây có lẽ chưa chuẩn xác, bởi vì tổng công ty là một mô hình tổ chức còn công ty mẹ công ty con không phải là một tổ chức, tổng cong ty muốn chuyển sang hoạt động theo công ty mẹ công ty con trước hết phải lựa chọn một doanh nghiệp đóng vai trò công ty mẹ và một công ty đóng vai trò công ty con. Đối với doanh nghiệp tư nhân( đơn sở hữu ) việc trở thành công ty mẹ hoặc công ty con mang tính chất tự phát. Một doanh nghiệp bằng phương thức nào đó mua đa số cổ phần hoặc nắm về công nghệ, thị trường… mà chi phối một doanh nghiệp khác thì chở thành công ty mẹ của doanh nghiệp đó. Ngựơc lại nếu để doanh nghiệp khác chi phối thì sẽ trở thành công ty con. Việc trở thành công ty mẹ , hoặc công ty con không cần bất cứ một quyết định mang tính chất hành chính nào. Đối với tổng công ty nhà nước thì khác. Tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên đều thuộc sở hữu nhà nước đều bị điều chỉnh bởi luật doanh nghiệp nhà nước và các văn bản pháp luật liên quan. Quan hệ giữa tổng công ty và doanh nghiệp thành viên được quy định trong điều lệ tổng công ty , nhưng tổng công ty không hoàn toàn được các doanh nghiệp thành viên, nhất là các thành viên có tính độc lập trong kinh doanh. Nếu cứ để doanh nghiệp thành viên tổng công ty hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước thì việc chuyển các doanh nghiệp này thành công ty con sẽ khó thực hiện hoạc có thực hiện chỉ là hình thức để chuyển các doanh nghiệp thành viên tổng công ty thành công ty con chỉ có hai giải pháp hiệu quả nhất. Giải pháp thứ nhất là thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu các doanh nghiệp thành viên, trong đó nhà nước vẫn lắm cổ phần chi phối tại các doanh nghiệp này. Hình thức đa dạng hoá sở hữu có thể là cổ phần hoá hoặc đem góp vốn liên doanh. Vì nhà nước lắm cổ phần chi phối lên đương nhiên công ty cổ phần hoặc xí nghiệp liên doanh đó sẽ bị tổng công ty chi phối và chở thành công ty con của tổng công ty. Giải pháp thứ hai là chuyển các doanh nghiệp thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổng công ty là chủ sở hữu do dó sẽ chi phối hoạt độngcủa doanh nghiệp thành viên vad doanh nghiệp thành viên sẽ chở thành công ty con của tổng công ty. Các công ty con( công ty chínhphủ, công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên) là những pháp nhân độc lập chỉ chịu sự chi phối của tổng công ty với tư cách là chủ sở hữu theo quy địng của luật pháp, không bị chi phối, can thiệp vào quy trình hoạt động kinh doanh, quản lý tài chính bằng các quyết định hành chính. Do đó quyền tự chủ của công ty con sẽ được phát huy đầy đủ. Việc lựu chọn doanh nghiệp đóng vai trò công ty mẹ tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của tổng công ty để quyết định. Có thể lựu chọn văn phòng tổng công ty gồm tất cả những doanh nghiệp thành viên hạch toán phụ thuộc hoặc doanh nghiệp thành viên hặch toán phụ thuộc hoặc một doanh nghiệp thành viên có vị trí quan trọng trong nền sản xuất, kinh doanh của tổng công ty làm công ty mẹ. Toàn bộ số vốn nhà nước đã giao cho tổng công ty được chuyển thành vốn nhà nước đầu tư cho công ty mẹ. Số vốn nhà nước có tại các công ty con(đã chuyển thành công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) trở thành vố của công ty mẹ đầu tư vào công ty con. Việc xác định vốn của công ty mẹ đầu tư vào công ty con hoàn toàn khác với việc nhà nước giao vốn cho tổng công ty và tổng công ty giao vốn cho các thành viên. Khi hình thành các tổng công ty,phần lớn các doanh nghiệp đã được nhà nước đầu tư vốn và nhà nước giao vốn cho các doanh nghiệp thành viên theo một cơ chế. Khi các doanh nghiệp thành viên chuyển thành công ty con hoặc theo luật doanh nghiệp cho quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đã được quy định cụ thể, công ty mẹ có thể giữ 100% vốn của nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước hoặc thực hiệnquyền sở hữu trong đó nhà nước lắm quyền chi phối đối với công ty qua đó lắm quyền chi phối dù hoạt động ở hình thức nào, nhà nước vẫn lắm quyền chi phối đối với công ty con mà hướng đến quyền tự chủ của công ty mẹ và công ty con. Để chuyển các tổng công ty nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con. Đây là một quyết định đúng đắn trong nền kinh tế nước ta hiện nay. Nhưng qua dây ta cần phân biệt sụ kgác nhau giữa mô hình tổng công ty với mô hình công ty mẹ công ty con. Điểm khác biệt cơ bản của mô hình này với mô hình khác là sẽ phát huy được tính tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên đồng thời vẫn đảm bảo được lợi ích kinh tế trong kinh doanh , bảo đảm được lợi ích kinh tế trong kinh doanh, bảo đảm được lợi ích kinh tế tài chính của các bên, phát triển công ty mạnh với bộ máy quản lý điều hành gọn nhẹ. Mô hình công ty mẹ công ty con với đa sở hữu vốn theo nguyên tắc quản lý tập chung dân chủ, bình dẳng và tôn trọng lợi ích của toàn công ty và mỗi đơn vị thành viên, giảm bớt sự liên kết theo kiểu mệnh lệnh hành chính, thực hiên tổ chức bộ máy gọn nhệ có hiệu lực, gắn kết với việc kinh doanh của mình.