Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là giải pháp cơ bản để đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay

1. Các quan điểm về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước của Đảng cộng sản Việt Nam 

Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ có một chủ sở hữu thành công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu .Cổ phần hóa DNNNlà quá trình chuyển đổi sở hữu Nhà nước thành công ty cổ phần trong đó Nhà nước vẫn giữ tư cách là một cổ đông -vẫn là chủ sở hữu một bộ phận tài sản của doanh nghiệp

Cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước. Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VII đã nêu rõ: Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phấn và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới. Phải thí điểm chỉ đạo chặt chẽ rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp.

Nghị quyết 10-NQ/ TW ngày 17/3/1995 của bộ chính trị đã nêu: Thực hiện từng bước vững chắc về tổ chức về cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp không cần nhà nước đầu tư 100% vốn. Tuỳ tính chất loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán tỷ lệ cổ phiếu cho công nhân viên chức làm tại doanh nghiệp để tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho tổ chức hay cá nhân ngoài quốc doanh, Như vậy, nghị quyết của Đảng chỉ ra mục tiêu, đồng thời cũng nêu khái quát hình thức, mức độ và phạm vi thí điểm cổ phần doanh nghiệp nhà nước.

Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá IX nhấn mạnh Đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện các hình thức cổ phần thích hợp với tổ chức và lĩnh vực sản xuất để thu hút thêm các nguồn vốn, taọ thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả

Thực hiện chủ trương của Đảng; Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các văn bản để tổ chức thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước.
Căn cứ các chủ trương nêu trên, cán bộ ngành đã thông báo đến từng doanh nghiệp để đăng ký thực hiện thí điểm chuyển sang công ty cổ phần. Dựa vào số lượng doanh nghiệp nhà nước đã đăng ký, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (naylà Thủ Tướng Chính Phủ) đã có :
Quyết định số 203/TC ngày 8/5/1992 chọn 7 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần chỉ đạo thí điểm chuyển thành công ty cổ phần. Bộ Tài chính quyết định danh sách 19 doanh nghiệp được các Bộ chỉ đạo chuyển thành công tycổ phần. Tuy có 19 doanh nghiệp nhà nước đăng ký làm thí điểm cổ phần hoá, nhưng trong quá trình xây dựng đề án nhiều giám đốc và tập thể lao động lại xin rút, hoặc không đủ điều kiện để tiến hành cổ phần hoá (tính đến 1/9/1998). Danh sách các doanh nghiệp nhà nước này đã hoàn thành việc chuyển thành công ty cổ phần.

2. Tình trạng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước hiện nay

2.1 Thực chất của quá trình cổ phần hoá

Trong tiến trình chuyển đổi kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, sự đa dạng háo các loại hình thức sở hữu đã trở thành đòi hỏi tất yếu và ngày càng phổ biến trong toàn xã hội. Những thành tựu của công cuộc đổi mới cho phép đông đảo quần chúng công nhân ngày càng rõ hơn rằng: Bên cạnh hình thức sở hữu Nhà nước, các hình thức sở hữu khác ( Tư nhân hay hỗn hợp) nếu được tạo điều kiện thuận lợi cũng phát huy vai trò tích cặc trong đời sống kinh tế. Đồng thời đa dạng hoá các hình thức sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên tắc kinh tế,nâng cao quyền tự chủ tài chính và khả năng tự quản kinh doanh sản xuất, nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng như đầu óc sáng tạo của người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp .

– Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã khắc phục được tình trạng vô trách nhiệm, ỷ lại và lãng phí của các thành viên trong doanh nghiệp.Bởi vì những chủ thực sự của doanh nghiệp đều có quyền lợi gắn liền với sự thành bại của doanh nghiệp.

– Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đã tháo gỡ khó khăn trong ngân sách Nhà nước và góp phần xây dưng thị trường vốn lành mạnh phong phú.
Những năm gần đây, việc đảm bảo nền kinh tế quốc gia vững vàng là một yêu cầu cực kỳ bức thiết, đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh tế không chỉ cần được phân bổ hợp lý, có lợi cho việc tái cơ cấu nền kinh tế quốc dân mà tài sản Nhà nước cũng cần được sử dụng nhằm mang lại hiệu quả đầu tư tối đa.

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là giải pháp giúp chính phủ thực hiện được những đòi hỏi thực tiễn trên đây.Tài sản doanh nghiệp Nhà nước nhờ cổ phần hoá thu hồi sẽ được phân bố cho những dự án quốc gia giàu tính khả thi hoặc đầu tư vào những ngành mang lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Hơn nữa các công ty cổ phần dưới quyền điều hành của chủ nhân mới, với động lực mới trong quản lý doanh nghiệp,sức mạnh cạnh tranh không ngừng được củng cố để đảm bảo thu hút vốn cổ phần của các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là phần vốn nhàn rỗi trong xã hội. Điều đó góp phần tích cực cho việc hình thành thị trường chứng khoán, một điều kiện quan trong cho việc vận hành của nền kinh tế thị trường.

– Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tạo động lực mới trong quản lý doanh nghiệp.Cổ phần hóa tác động trực tiếp đến người lao động, gắn trách nhiệm của họ với kết quả sản xuất kinh doanh cảu doanh nghiệp, lợi ích của họ gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp. Ngoài ra cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước làm thay đổi mối quan hệ giữa quyền quản lý và quyền sở hữu tài sản, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối ở các công ty cổ phần quyền sở hữu và quyền quản lý được tách biệt rõ ràng, sự can thiệp của các cấp chính quyền tới doanh nghiệp được giảm xuống tới mức thấp nhất bởi nó khẳng định vai trò của hội đồng quản trị-lầ tổ chức thay mặt tất cả các cổ đông, quản lý với tư cách là người chủ thực sự của doanh nghiệp

Tóm lại: Với những giải pháp cơ bản như trên, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước thực sự là một giải pháp cần thiết, quan trọng và trọng tâm của cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nước .

2.2 Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam :

Từ năm 1954 miền Bắc nước ta bắt đầu khôi phục và phát triển nền kinh tế. Một số ít xí nghiệp của tư sản dân tộc được cải tạo thành công ty cổ phần dưới dạng công -tư hợp doanh với điều kiện Nhà nước lắm quyền quản lý và điều hành sản xuất. Đến cuối những năm 1960 các xí nghiệp này được chuyển thành các xí nghiệp quốc doanh.

Còn ở Miền Nam, sau những năm 1975 do tiến hành cải tạo công thương nên đã ra đời nhiều xí nghiệp cổ phần. Từ năm 1980 các xí nghiệp đó chuyển thành các xí nghiệp quốc doanh.

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 ( năm1986) thực hiện chủ trương đổi mới quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước là phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. ở nước ta đã xuất hiện một số xí nghiệp công ty cổ phần với quy mô nhỏ bé, trình độ thấp nguồn vốn do các xí nghiệp đóng góp và đang trong giai đoạn sơ khai như: công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản (Seapr odex), xí nghiệp vận tải biển Hải Phòng, các công ty cổ phần trong lĩnh vực ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, hàng loạt các công ty liên doanh nước ngoài và công ty cổ phần tư nhân hoá.Từ năm 1992 tới nay đã thực hiện những giai đoan sau :

+ Giai đoàn thí điểm (1992 – 1995 ):

Trong giai đoạn này Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Thủ tướng Chính phủ ) đã ban hành Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 về thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần và Chỉ thị số 84 về việc xúc tiến thực hành thí điểm CPH DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với các DNNN. Sau 4 năm thực hiện, triển khai quyết định số 202/CT và Chỉ thị số 84 của Thủ tướng Chính phủ (1992 – 1996) đã chuyển được 5 DNNN thành công ty cổ phần

Trong số 5 doanh nghiệp nói trên thì có 4 doanh nghiệp thuộc địa bàn TP Hồ Chí Minh và 1 doanh nghiệp thuộc địa bàn tỉnh Long An.

+ Giai đoạn mở rộng từ năm 1996 đến nay :
Trong giai đoạn này ta có thể tác thành 2 giai đoạn sau:

+ Giai đoạn từ 5/1996 – 7/1998: Trên cơ sở đánh giá các ưu điểm và tồn tại trong giai đoạn triển khai thí điểm CPH DNNN, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996 về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần. Nghị định đã xác định rõ mục tiêu, đối tượng thực hiện CPH : quy định cụ thể nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp, chế độ ưu đãi cho người lao động trong DNNN và tổ chức bộ máy giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác CPH DNNN. Đồng thời giao nhiệm vụ cho các Bộ, các địa phương hướng dẫn và tổ chức thực hiện. Là giai đầu của thời kì mở rộng công tác CPH từ tháng 5/1996 đến 5/1998 tốc độ CPH đã tăng nhanh hơn. Trong hai năm đã CPH được 25 doanh nghiệp, bằng 5 lần giai đoạn thí điểm. Diện CPH cũng rộng hơn : 3 bộ và 9 tỉnh thành phố có doanh nghiệp CPH. Quy mô doanh nghiệp cũng lớn hơn, có doanh nghiệp vốn trên 120 tỷ đồng, 5 doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng

+ Giai đoạn từ 7/1998 đến nay : Trên cơ sở đánh giá các ưu thế và hạn chế của Nghị định số 28/CP Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/CP ngày 29/6/1998 về vấn đề CPH DNNN thay thế cho các nghị định trước đây. Đây là một mốc quan trọng trong tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá các ưu thế và hạn chế của Nghị định số 28/CP Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/CP ngày 29/6/1998 về vấn đề CPH DNNN thay thế cho các nghị định trước đây. Đây là một mốc quan trọng trong tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam. Nghị định này đã xác định rõ và giảm thiểu danh mục ngành nghề Nhà nước cần giữ 100% vốn, Nhà nước nắm giữ cổ phần đặc biệt, cổ phần chi phối, không hạn chế quy mô doanh nghiệp. Do đó chỉ trong 6 tháng đến 31/12/1998 đã CPH được số doanh nghiệp gấp ba lần hai giai đoạn trước đây. Tức là tính đến ngày 31121998 cả nước đã CPH được 120 DNNN. Năm 1999 là năm đạt kết quả cao nhất về công tác CPH: cả nước đã chuyển được 250 DNNN hoặc bộ phận DNNN thành công ty cổ phần, đạt 55,5% chỉ tiêu nhà nước đề ra(450 DN). Như vậy tính đến ngày 31/12/1999 đã có 370 DNNN hoặc bộ phận DNNN thành công ty cổ phần, trong đó có những DN có vốn lớn như Công ty mía đường Lam Sơn có giá trị tài sản 665 tỷ đồng, vốn Nhà nước tại DN là 92,5 tỷ đồng…. Tuy số DNNN đã CPH đạt con số 370 doanh nghiệp (31/12/1999) nhưng so với tổng số DNNN hiện có thì mới chiếm tỷ lệ rất thấp (6,4%) và so với số vốn Nhà nước hiện có tại khu vực DNNN thì mới cổ phần hoá được 1% phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Điều này rõ ràng chưa góp phần hữu hiệu vào việc cơ cấu lại khu vực DNNN trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay tính từ năm 1998 đến đầu năm 2002 thì cả nước đã cổ phần hoá trên 800 doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ và thị phần chưa cao trong nền kinh tế quốc dân .Nhưng một số vướng mắc cần giải quyết đặt ra là:
-Tốc độ tiến hành cổ phần hoá còn quá chậm trước năm 1999 cổ phần hoá được 116 doanh nghiệp , năm 1999 cổ phần hoá 249 doanh nghiệp ,năm 2000 là 212 doanh nghiệp ,năm 2002 cả nước mới có trên 800 doanh nghiệp chỉ đạt 38% kế hoạch được giao. Nhưng theo đề án sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước từ năm 2002 đến 2005 các bộ ngành địa phương và các tổng công ty 91 phải cổ phần hoákhoảng 2000 DNNN tức là trung bình mỗi năm phải cổ phần hoá500 doanh nghiệp .Nhưng cả năm 2002 cả nước mới cổ phần được 148 doanh nghiệp .Nghĩa là trong 3 năm còn lại trung bình mỗi năm phải có 600 doanh nghiệp được cổ phần hoá .
-Việc tiến hành cổ phần hoá không đồng đều giữa các ngành các địa phương .
-Nhiều mục tiêu cổ phần hóa chưa đạt như mục tiêu huy động vốn của toàn xã hội vào đầu tư phát triển ;mục tiêu tạo điều kiện để người lao động các doanh nghiệp cổ phần có cổ phần ,được mua cổ phiếu với giá ưu đãi .
-Tài sản Nhà nước bị thất thoát nhiều trong quá trình cổ phần hoá do không định giá đúng được tài sản .
-Tổ chức Đảng trong công ty cổ phần chưa được đổi mới về chức năng nhiệm vụ ,phương hướng hoạt động nên lúng túng trong sinh hoạt ,chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của mình .
Nguyên nhân của tình trạng này bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan vì vậy cần có những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên
2.3 Một số giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam:
2.3.1. Tạo môi trường pháp lý đầy đủ cho việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước:
Để tạo ra sự thống nhất cao về quan điểm trong toàn xã hội , tạo điều kiện để các ngành, các cấp yên tâm thực hiện và thực hiện đúng, tránh những lệch lạc thiếu xót không cần thiết. Nhà nước cần có một hệ thống pháp quy đầy đủ và đồng bộ hướng dẫn việc thực hiện cổ phần hoá.
Việc ban hành các chính sách về cổ phần hoá cần phải được thực hiện sớm, kịp thời và chính xác, tránh việc ban hành vội vàng, sửa đổi nhiều lần gây khó khăn cho việc thực hiện của cấp dưới.
2.3.2. ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, nhất là ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát.
Việc ổn định tiền tệ và duy trì sự ổn định đó một cách lâu dài sẽ tạo ra một tâm lý an toàn cho các nhà đầu tư, khuyến khích nhiều thành viên bỏ vốn mua cổ phiếu.
Hiện nay lượng vốn nhàn rỗi trong dân tương đối lớn theo ước tính, nên các chính sách tiền tệ ổn định và hợp lý sẽ là một biện pháp để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong mọi thành phần xã hội…thì việc đầu tư mua khi cổ tức lớn hơn lãi suất ngân hàng trong trường hợp tỷ lệ lạm phát thấp cổ phiếu sẽ được ưu tiên nhiều hơn.
2.3.3 Cần sớm hoàn thiện thị trường chứng khoán trong mối quan hệ thị trường vốn, thị trường tiền tệ.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán cổ phiếu và trái phiếu. Thị trường chứng khoán cung cấp nguồn vốn dài hạn cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thị trường vốn là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán và ccs giấy ghi nợ trung và dài hạn. Thị trường vốn cung ứng các nguồn vốn nhàn rỗi vào thời gian cho vay trên một năm để đầu tư dài hạn vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Trên thực tế ở nước ta hiện nay đã có thị trường chứng khoán .Nhưng hoạt động của nó chưa có khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế quốc dân vì vậy chưa phát huy được tính ưu việt của mình
Việc hình thành thị trường chứng khoán sẽ tạo điều kiện để mua bán cổ phiếu, thu hút được ngoại tệ thông qua việc bán cổ phiếu cho người nước ngoài. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho Nhà nước quản lý vĩ mô thị trường vốn, đánh giá sự phát triển nền kinh tế và đánh giá khả năng kinh doanh của các doanh nghiệp.
2.3.4. Tạo sự thống nhất trong nhận thức về chủ trương cổ phần hoá.
Thứ nhất, cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước không dẫn đến nguy cơ chênh lệch hướng xã hội chủ nghĩa và làm suy yếu kinh tế Nhà nước. Bởi lẽ:
Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, Nhà nước vẫn nắm giữ các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trọng yếu tạo nền tảng cho nền kinh tế quốc dân và sức mạnh của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tài sản Nhà nước không bị suy giảm, mà còn có khả năng gia tăng nhờ lợi tức cổ phần của Nhà nước và sự đóng góp ngày càng tăng của các công ty cổ phần làm ăn hiệu quả.
Quá trình cổ phần hoá được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, cổ phần hoá không làm ảnh hưởng tới quyền lợi và vị trí của mỗi người trong doanh nghiệp nếu họ thực sự có khả năng và có đóng góp tích cực vào hoạt động của doanh nghiệp.
2.3.5. Tạo sự kích thích mạnh mẽ hơn bằng những ưu đãi kinh tế.
Nghị định 28/CP đã giành cả chương III để đề cập đến những ưu đãi với doanh nghiệp và công nhân viên chức trong doanh nghiệp cổ phàan hoá. Tuy nhiên một số khoản trong đó cũng là ưu đãi chung cho nhiều doanh nghiệp thông thường khác, hoặc không thể coi là ưu đãi theo đúng nghĩa của nó.Cần có chính sách thoả đáng hơn đối với người lao động trong doanh nghiệp.
2.3.6. Đối với công tác chỉ đạo thực hiện cổ phần hoá.
Kết hợp sự chỉ đạo tập trung của Nhà nước và đăng ký tự nguyện của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Căn cứ vào những quy định chung về lựa chọn doanh nghiệp cổ phần hoá và diều kiện cụ thể của ngành và địa phương , các cơ quan Nhà nước tiến hành phân loại các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc. Đó là cơ sở để xác định chương trình cổ phần hoá.Xác định rõ ràng và thống nhất xuyên suốt mọi quy định về cổ phần hoá.
2.3.7 Đa dạng hoá hình thức cổ phần hoá:
Muốn thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước cần sử dụng nhiều hình thức cổ phần hoá. Có thể áp dụng các hình thức sau : Công ty hoá doanh nghiệp Nhà nước, số vốn trong doanh nghiệp Nhà nước được chia làm nhiều phần, Nhà nước giao cho một số cơ quan nắm giữ cổ phiếu của Nhà nước. Các cơ quan này được hưởng quyền lợi, được Nhà nước giao các quyền hạn và chịu trách nhiệm trước Nhà nước theo quy định để quản lý phần vốn đó ; Giữ nguyên giá trị hiện có của doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu theo quy định nhằm thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp; Bán một phần giá trị hiện có của doanh nghiệp cho một số thể nhân, pháp nhân để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn ; Doanh nghiệp bán cổ phần cho công chúng để giảm bớt phần vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp để tạo thành sở hữu hỗn hợp…
Tóm lại: Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam diễn ra trong những điều kiện thuận lợi và khó khăn nhất định của hoàn cảnh kinh tế xã hội.
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của chính phủ về cổ phần doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện đồng bộ các giải pháp trên đây sẽ tháo gỡ các vướng mắc hiện tại của quá trình cổ phần hoá và thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta kịp với tiến độ mong muốn, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.