Cơ sở để kiểm tra thư tín dụng

1. Dựa theo bộ tập quán quốc tế điều chỉnh L/C của ICC: UCP 600; ISBP 681; eUCP 1.1

*  Văn bản pháp lý Quốc tế thông dụng của tín dụng chứng từ là “Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” số 600, bản sửa đổi năm 2006 của phòng thương mại quốc tế phát hành. Khác với luật quốc gia hay công ước quốc tế, UCP không được tự ý áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ mà mang tính chất pháp lý tùy ý. Tuy nhiên, một khi các bên đã đồng ý áp dụng UCP600 thì UCP600 sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của cả hai bên tham gia. UCP được áp dụng rộng rãi ở hơn 175 nước trên thế giới chứng tỏ đây là quy tắc của khu vực tư nhân thành công nhất từ trước cho tới nay. UCP600 bao gồm những quy định chính xác, rõ ràng về việc xử lý và kiểm tra chứng từ mà có thể áp dụng một cách thống nhất trên toàn thế giới. Theo lịch sử phát triển của UCP, nhìn chung cứ khoảng 10 năm, UCP được sửa đổi một lần cho phù hợp với sự phát triển và thay đổi của hoạt động thương mại, luôn phát huy tác dụng thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.

Để bổ sung cho UCP, ICC đã ban hành hai bản quy tắc mới để kiểm tra chứng từ theo L/C và xuất trình chứng từ điện tử:

*  Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng – số 681, của ICC tuân thủ UCP 600 2007 ICC (International Standard Banking Practice for the examination of document under documentary credit – ISBP 681 bản sửa đổi năm 2007 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2007). Tại khoản d, điều 14, UCP-600-Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ quy định: “Dữ liệu trong một chứng từ không nhất thiết phải giống hệt như khi đọc lời văn của thư tín dụng, của bản thân chứng từ và của tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế, nhưng không được mâu thuẩn với dữ liệu trong chứng từ đó, với bất cứ chứng từ quy định khác hoặc với tín dụng”. Cần chú ý là ISBP 681 không có mối quan hệ gì với UCP 500 mà chỉ được áp dụng với UCP600. Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế không sửa đổi UCP và không mâu thuẫn với UCP cũng như với các ý kiến và quyết định của ủy ban Ngân hàng ICC mà chỉ giải thích một cách chi tiết và rõ ràng hơn về nội dung và cách áp dụng trong giao dịch hàng ngày của thư tín dụng.

*  Bản phụ trương UCP600 về việc xuất trình chứng từ thư điện tử – Bản diễn giải số 1.1 năm 2007 (Supplement to UCP600 for Electronic Presentation.version 1.1. eUCP 1.1 2007 ICC): Là tập quán quốc tế bổ sung cho UCP 600 nhằm điều chỉnh việc chỉ xuất trình chứng từ điện tử hoặc kết hợp với việc xuất trình chứng từ bằng văn bản. Tại khoản a điều e2 – eUCP 1.1 – Mối quan hệ của eUCP và UCP quy định “Một thư tín dụng có tham chiếu eUCP (“thư tín dụng eUCP”) thì cũng là tham chiếu UCP mà không cần phải diễn đạt thêm là bộ phận của UCP”.

Như vậy, Bộ tập quán quốc tế điều chỉnh L/C của ICC  “UCP 600. ISBP 681; eUCP 1.1 ” là cơ sở pháp lý quốc tế (nếu được áp dụng) để điều chỉnh L/C của bên này mở cho bên kia hưởng.

2. Những yêu cầu về nội dung L/C

L/C là cơ sở để thiết lập bộ chứng từ. Vì vậy, các nội dung của L/C phải rõ ràng, không mơ hồ, tối nghĩa và không được mâu thuẩn nhau. Người yêu cầu phát hành L/C không nên đề ra những yêu cầu quá cao đối với bộ chứng từ xuất trình khiến người xuất khẩu không thể thực hiện được.  Tuy nhiên việc ghi chú các yêu cầu của L/C càng chi tiết thì thanh toán viên càng thuận tiện trong việc kiểm tra chứng từ chính xác và đầy đủ so với quy định của L/C.

Khi phát hiện thấy nội dung của L/C không phù hợp với hợp đồng, hoặc trái với luật lệ và tập quán hai nước đang áp dụng, hoặc không có khả năng thực hiện, bên xuất khẩu phải đề nghị bổ sung hoặc sửa đổi thư tín dụng đó. Bởi vì nếu trong trường hợp đó người xuất khẩu cứ chấp nhận và tiến hành giao hàng theo hợp đồng thì người xuất khẩu không đòi được tiền, và tất nhiên ngược lại, nếu giao hàng theo yêu cầu thư tín dụng thì lại vi phạm hợp đồng.

3. Những yêu cầu về việc kiểm tra nội dung L/C

Cơ sở để lập một thư tín dụng được dựa trên hợp đồng thương mại quốc tế, do đó, L/C phải phù hợp với hợp đồng và không được mâu thuẩn với những nội dung cơ bản của hợp đồng. Do đó, nếu nội dung của L/C hoặc các vấn đề liên quan không phù hợp với quy định của hợp đồng thì rõ ràng là người mua đã vi phạm hợp đồng và người bán có quyền khiếu nại người mua, đó cũng là những vấn đề gây tranh chấp và cần được giải quyết. Người chịu trách nhiệm kiểm tra L/C phải là cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu, hiểu rõ hợp đồng mà mình đang chuẩn bị thực hiện. Chú ý trong trường hợp kiểm tra L/C của một hợp đồng bổ sung (addition contract) thì ngoài việc căn cứ vào hợp đồng này, chúng ta còn phải dựa vào những điều khoản của hợp đồng gốc vì hợp đồng bổ sung chỉ ký những khoản cụ thể mà hợp đồng gốc chưa đề cập đến.

Sau khi đã đọc kỹ thư tín dụng, thanh toán viên cần ghi chú vào “Phiếu kiểm chứng từ xuất khẩu” các loại và số lượng mỗi loại chứng từ theo các điều khoản trong L/C yêu cầu như:

– Số L/C, ngày phát hành

– Số tiền và dung sai cho phép

– Ngày hết hạn giao hàng, ngày hết hạn hiệu lực của L/C

– Thời hạn xuất trình chứng từ

– Cách gởi chứng từ đi đòi tiền

– Tên hàng hóa, cảng đi, cảng đến…