Cục dự trữ Liên bang Mỹ (The Federal Reserve-FED)

  • Quá trình chuyển đổi:

Tại Mỹ đã xảy  ra  Siêu  lạm phát  trong giai  đoạn 1970s  và  nguyên nhân  xuất  phát từ tiền tệ (Orphanides và Porter, 2001)45, cũng nhƣ ảnh hƣởng của giá dầu. Do  đó, từ cuối năm 1970, FED bắt đầu xây dựng lộ trình điều hành M1 và  M2  và  từ năm  1975 chính thức công bố mục tiêu tăng trƣởng cung tiền theo Nghị quyết của Quốc hội Mỹ nhằm giảm dần lạm phát. Đến năm 1979, FED bổ sung mục tiêu tiền dự  trữ của các NHTM. Tuy nhiên trên thực tế, FED lại không  ƣu tiên mục  tiêu khối  lƣợng mà chú trọng vào giảm tỷ lệ thất nghiệp  và  lãi  suất  (Mishkin,  2000), phản  ánh  qua chỉ tiêu M1 đã không giảm về mức mục tiêu mà thực tế  có  xu  hƣớng  tăng.  FED  đã không  kiểm soát đƣợc tiền tệ trong vòng  nhiều năm  (giai  đoạn từ 1979  đến 1982), trong khi đó tỷ lệ thất nghiệp giảm dần, kéo lạm phát tăng mạnh. Hơn  nữa,  mối  quan  hệ  giữa  khối  lƣợng tiền với GDP danh nghĩa, và với  lạm phát đã bị  phá  vỡ,  làm tăng lo  ngại  rằng   mục tiêu khối lƣợng không  còn hữu ích trong việc  định hƣớng thực  thi CSTT.  Vì  vậy,  để đạt đƣợc mục tiêu kiểm soát lạm phát, FED đã dần từ bỏ  mục  tiêu khối lƣợng và  chính thức tuyên bố không đặt mục tiêu M1  vào  đầu năm  1987. Sau khi  chứng kiến sự sụp đổ của thị trƣờng chứng khoán (tháng  10/1987), Ủy ban nghiệp vụ  thị trƣờng mở  Mỹ (Federal Open Market Committee-FOMC) bắt đầu quay  trở lại  nhắm  mục  tiêu lãi suất FFR (Meulendyke, 1998). Tháng 7/1993, FED từ bỏ  hoàn  toàn  mục  tiêu tiền tệ (M2, M3) và chuyển hẳn sang mục tiêu FFR để định hƣớng cho việc thực thi CSTT.

  • chế điều hành lãi suất:

Cho đến nay, về cơ bản, điều hành CSTT của FED nhằm đạt đƣợc ba mục tiêu  chính do Quốc hội đề ra:  tối  đa hóa việc  làm,  ổn định giá cả và ổn định lãi  suất trung dài hạn. FED tham gia trên thị trƣờng  FED  Funds  (chính  là thị  trƣờng  dự  trữ ngân hàng – market for bank reserves) và đóng vai trò là ngƣời  cung ứng dự trữ và  thiết lập  mức lãi suất FFR.

  • Về lãi suất mục tiêu: FED lựa chọn lãi suất FFR là mức lãi  suất  mục  tiêu và điều hành các công cụ CSTT để hƣớng lãi suất thị trƣờng theo mức mục tiêu. FED xác định và công bố lãi suất mục tiêu  Fed  fund rate  -FFR (là mức  lãi  suất  bình quân, xác định trên cơ sở lãi suất cho vay qua đêm trên TTLNH) với vai trò định hƣớng lãi suất TTLNH có thể gọi là lãi suất LSCS).  FED  thực  thi  CSTT  thông  qua  việc  điều chỉnh tăng hoặc giảm FFR, từ đó ảnh hƣởng đến nguồn cung  tín dụng  và  lãi  suất  tín dụng  trong nền kinh tế, qua  đó  ảnh  hƣởng  đến cầu  của hàng  hóa và  dịch  vụ  của dân chúng và các doanh nghiệp thông qua  cơ chế  tác  động của CSTT đến lãi  suất  thực, đến tổng  cầu và cuối cùng là tác động đến tăng trƣởng, việc làm và lạm phát.

Thị trường Fed Funds (Fed Funds Market) là TTLNH đối  với  các  khoản  cho vay/đi vay số dƣ tài khoản tiền gửi của các định chế nhận tiền gửi tại FED. Thị trƣờng  FED Funds có đặc điểm là nơi cung cấp các khoản tín dụng không có tài sản bảo đảm, thƣờng là cho vay qua đêm, việc thanh toán đƣợc  thực  hiện ngay trong ngày  và  việc  thực hiện các giao  dịch Fed Funds có tính chất bán  buôn  giữa  các  ngân  hàng  lớn thƣờng đƣợc thực hiện thông qua các nhà môi giới tiền tệ. Việc vay mƣợn chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn trong thanh toán, tránh tình trạng thấu chi  và  đáp  ứng  yêu  cầu DTBB. Hầu hết các giao dịch thực hiện qua điện thoại, một số giao dịch thực  hiện qua mạng Reuters và Bloomberg. Các nhà môi giới  thƣờng  xuyên  yết  giá  cập  nhật  trên màn hình điện tử nối mạng với các ngân hàng.

Đặc biệt, FED  cung  cấp  hệ  thống thanh toán vi  tính hóa (mạng  Fedwire)  để  xử lý và theo dõi các giao dịch riêng  biệt.  Ngoài  ra,  FED  có  trang Web thu thập các  số liệu cũng nhƣ lãi suất trên thị trƣờng FED  Funds. Hàng ngày,  FED  New York có bộ  phận dự báo cung cầu FED Funds để thực hiện  OMOs  và  có mạng theo  dõi  các  hoạt động vay mƣợn FFR, công bố lãi suất  FFR  hữu  hiệu hàng  ngày  trên cơ sở tính bình  quân gia quyền các giao dịch thực hiện bởi các nhà môi giới chính.

  • Mô hình hành lang lãi suất:  Theo  đó, từ giữa những năm 1990, FED đã thiết lập hành lang lãi suất trung bình với  mức  trần của hành lang là lãi  suất  chiết  khấu  cao hơn mức lãi suất mục tiêu FFR + 0,5% và  mức  sàn là lãi suất  DTBB  thấp hơn mức lãi suất mục tiêu FFR là -0,5% và mức lãi suất mục  tiêu FFR nằm  ở vị  trí trung tâm hành Sau khủng hoảng 2008, FOMC nhận thấy  khả  năng  thực  hiện  mục  tiêu  lãi  suất FFR khó đạt đƣợc  nên  từ tháng 10/2008, FED đã tuyên bố  trả lãi suất  cho các  khoản dự trữ vƣợt và hƣớng tới khung khổ hành lang lãi suất sàn (Phụ lục 2).
  • Về sử dụng công cụ CSTT:

Trƣớc những năm 1990, FED điều hành CSTT thông qua các  công  cụ truyền thống, bao gồm mua bán TPCP trên OMOs, TCV cho các  ngân hàng  thông  qua  kênh chiết khấu, điều chỉnh DTBB nhằm tác  động  lên  mục  tiêu trung gian là cung tiền. Từ  năm 1993, FED chính thức công bố chuyển sang mục tiêu lãi suất mà cụ thể là lãi suất  định hƣớng TTLNH (Federal Funds Target Rate). Theo đó,  trong  điều  kiện  bình thƣờng, FED sử dụng chủ yếu 3 công cụ CSTT:  OMOs,  cho  vay  chiết  khấu  (cửa sổ chiết khấu) và DTBB qua đó tác động đến lƣợng tiền cung ứng và lãi  suất  nhằm  đạt  đƣợc mục tiêu CSTT. Trong đó, OMOs  đƣợc  xem là một  công cụ chủ yếu, quan trọng  và hiệu quả nhất trong điều hành CSTT;  công  cụ  cho  vay  chiết  khấu  (cửa  sổ  chiết khấu) và công cụ DTBB có vai  trò  hạn  chế  hơn  (khủng  hoảng tài  chính 2008 – FED đã sử dụng các công cụ phi truyền  thống-  Phụ  lục  2).  FED  chủ yếu thực  hiện mua hoặc bán chứng khoán đƣợc chính phủ Mỹ phát hành  hoặc  bảo  lãnh  trên OMOs, các  hợp  đồng mua lại (RPs-Repurchase Agreements) và mua  lại  đảo  ngƣợc  (Reserve RPs) để giữ lãi suất TTLNH ở mức hoặc gần mức lãi suất định hƣớng.

Từ tháng 10/2008, FED bắt đầu thực hiện trả lãi  tiền gửi  dự trữ vƣợt  cho  các ngân hàng nhằm khuyến khích các ngân hàng nắm  giữ  dự  trữ  bổ  sung,  thay  vì  duy trì mức dự trữ thấp bởi các ngân hàng có số dƣ tiền gửi dự trữ tại FED lớn sẽ đƣợc ngƣời  gửi tiền tin tƣởng rằng tiền gửi của họ đƣợc an toàn.  Trên  thực  tế, các ngân hàng đã tăng dự trữ lên mức rất  cao  trong năm  2009, vƣợt  quá số  tiền ký quỹ giao  dịch. Việc trả lãi suất dự trữ vƣợt cho các ngân hàng còn đóng vai trò nhƣ một công cụ CSTT của FED bổ sung để tác động đến cung tiền. Bằng cách tăng lãi suất  dự trữ, FED  có thể khuyến khích các ngân hàng tăng số dƣ dự  trữ,  do  đó  làm  giảm  hệ  số  nhân  tiền và cung tiền và ngược lại.

Về cơ chế truyền dẫn của FFR: Khi các  điều kiện trong nền kinh tế thay đổi, FED thƣờng điều chỉnh lãi suất định hƣớng FFR, từ đó tác động trực tiếp đến lãi suất thị trường; và gián tiếp ảnh hƣởng đến giá chứng khoán, giá các tài  sản và  tỷ giá hối  đoái. Thông qua các kênh trực tiếp và  gián  tiếp,  CSTT  sẽ  ảnh  hƣởng  đến quyết  định chi tiêu của các hộ gia đình và đầu tƣ của doanh nghiệp,  do  đó  tác  động đến tăng trƣởng kinh tế, việc làm và lạm phát để  đạt  mức  mục  tiêu mong muốn.  FED  đƣa ra  mức lãi suất FFR định hƣớng và điều chỉnh lãi suất thị trƣờng sát với mức lãi suất mục tiêu FFR thông qua tăng/giảm nguồn  cung  dự  trữ, qua  đó  tác  động đến  kỳ  vọng  của các nhà đầu tƣ về việc FED nâng hoặc  hạ mức lãi  suất  định hƣớng trong tƣơng lai, tạo ra sự thay đổi của các mức lãi suất thị trƣờng nhằm đạt đƣợc mục tiêu CSTT.

Như vậy, để đạt đƣợc các mục  tiêu về  tối đa hóa việc  làm,  ổn định giá cả, lãi suất dài hạn ở mức  vừa  phải  theo  luật  định,  FED  thực  thi  CSTT bằng  cách nâng  hoặc hạ lãi suất định hƣớng FFR, phù hợp với điều kiện và triển vọng kinh tế.