Cung về các yếu tố sản xuất và sự cân bằng trên thị trường yếu tố sản xuất

 

1. Cung về các yếu tố sản xuất 

 Cung về yếu tố sản xuất xuất phát từ những người sở hữu chúng: người lao động cung ứng dịch vụ lao động, người chủđất cho thuê đất đai, người sở hữu vốn cho thuê dịch vụ vốn… Có những yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu (xăng dầu, sắt thép, vải…) được cung ứng trên thị trường chẳng khác gì so với việc cung ứng các hàng hóa thông thường. Chúng được các doanh nghiệp sản xuất ra như một hàng hóa và chỉ tồn tại như các yếu tốđầu vào đối với các doanh nghiệp mua chúng. Với tư cách là yếu tốđầu vào, nguyên vật liệu có thể và thường được sử dụng hết trong một chu kỳ sản xuất sản phẩm. Trong trường hợp này, chúng ta có thể áp dụng mô hình ở các chương trước để phân tích các quyết định cung ứng. Ởđây, chúng ta chỉ tập trung đề cập đến các yếu tố sản xuất như lao động, vốn, đất đai… là những nguồn lực mà bản thân chúng có thể phục vụ nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm khác nhau. Khi cần sản xuất ra một khối lượng hàng hóa nào đó, giả sử người ta cần đến 100 giờ máy, thì lượng máy chúng ta cần ởđây không phải là 1 hay 100 chiếc máy toàn vẹn mà chỉ là 100 giờ phục vụ của những chiếc máy. Đối tượng cung ứng ởđây không phải là bản thân tài sản máy (vốn hiện vật) mà là dòng dịch vụ do tài sản máy mang lại trong một khoảng thời gian nào đó (ta gọi chung là dịch vụ vốn hiện vật). Đối với lao động hay đất đai cũng vậy. Khi sử dụng chúng như một loại đầu vào trong một khoảng thời gian nào đó, người ta chỉ cần thuê chúng (nhằm khai thác dòng dịch vụ từ chúng) trong khoảng thời gian đó. Vì thế, với các yếu tố sản xuất loại này, khi đề cập tới các quyết định cung ứng (cũng tương tự như việc chúng ta đề cập đến mặt cầu ở phần trên), chúng ta trước hết nói đến các quyết định cho thuê hay cung ứng dịch vụ yếu tố sản xuất. (Cũng với lý do này, ở phần phân tích nhu cầu về các yếu tố sản xuất ở trên, khi đề cập đến giá các yếu tố sản xuất, chúng ta thường khẳng định đó là giá thuê. Tiền lương của một giờ lao động chẳng hạn không phải là giá lao động. Nó chỉ là giá của một giờ dịch vụ lao động hay nói cách khác, giá thuê một giờ lao động).

Khi ra các quyết định cung ứng về yếu tố sản xuất, những người sở hữu chúng phải cân nhắc chi phí và lợi ích của việc cho thuê chúng trên thị trường. Họ phải lựa chọn giữa việc đem các nguồn lực này ra cung ứng hay giữ lại cho mình vì mục đích phi thị trường hoặc làm dự trữ cho nhu cầu bản thân. Đối với những người lao động, đây là sự lựa chọn giữa đi làm và nghỉ ngơi hay có thời gian nhàn rỗi (nghỉ ngơi hay thời gian nhàn rỗi, đối với kinh tế học, bao hàm cả những thời gian cho phép người ta làm các công việc bên ngoài thị trường). Lợi ích của việc đi làm chính chính là khoản tiền lương kiếm được. Chi phí của nó chính là sự hy sinh thời gian nghỉ ngơi, nhàn rỗi. Giá trị hay lợi ích của việc nghỉ ngơi càng lớn thì chi phí cơ hội của việc đi làm cũng càng cao. Đối với người chủđất, việc đem một mảnh đất để cho thuê khiến cho anh ta (hay chị ta) mất đi cơ hội sử dụng nó để làm nhà, làm vườn phục vụ cho sở thích cá nhân. Lợi ích của việc cho thuê đất chính là khoản tiền thuê đất kiếm được. Chi phi của nó chính là toàn bộ các giá trị mà người chủđất phải hy sinh nếu nắm giữ nó cho nhu cầu bản thân. Với người sở hữu vốn, việc nắm giữ vốn cho nhu cầu bản thân hay vì những mục đích phi thị trường thường ít được đặt ra, vì động cơ của việc sở hữu vốn thường mang tính chất kinh doanh. Vì thế, chi phí của việc cho thuê vốn có thể xét trực tiếp thông qua viêc phân tích chi phí cơ hội của việc nắm giữ và cho thuê vốn.

Nói chung, sẽ là hợp lý khi chúng ta giảđịnh rằng, những người sở hữu các yếu tố sản xuất muốn tối đa hóa thu nhập hay lợi ích ròng (lợi ích trừđi chi phí) của việc cho thuê yếu tố. Về nguyên tắc, điều đó đạt được khi tại đơn vị yếu tố cuối cùng được cung ứng, lợi ích biên và chi phí biên cung ứng là bằng nhau.

Cũng giống như trên thị trường hàng hóa, nếu thị trường yếu tố là một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, đường cung ứng yếu tố chính là đường chi phí biên cung ứng yếu tố (tổng hợp các đường chi phí biên cung ứng của các cá nhân). Trong trường hợp điển hình, khi người sở hữu yếu tố giữ lại dự trữ cho bản thân mình càng ít, lợi ích biên của đơn vị yếu tố cuối cùng còn giữ lại càng cao (giống như việc càng có ít thời gian nghỉ ngơi, giá trị biên của một giờ nghỉ ngơi càng lớn). Điều đó tương đương với chi phí biên cung ứng yếu tố có xu hướng tăng lên khi lượng cung ứng tăng. Vì vậy, trên thị trường cạnh tranh, đường cung về một loại yếu tố sản xuất điển hình được vẽ như một đường dốc lên.

Tuy nhiên, giữa các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai và vốn tồn tại những sự khác nhau nhất định trong quan hệ cung ứng. Đất đai cũng như các tài nguyên thiên nhiên khác là những đầu vào có sẵn trong tự nhiên mà con người không “chế tạo” ra được. Xét một cách tổng thể trên phạm vi của cả nền kinh tế, quỹđất đai dường như là cốđịnh, mặc dù điều đó không có ý nghĩa tuyệt đối (người ta vẫn có thể mở rộng diện tích đất đai bằng cách lấn biển, khai thác đất hoang hóa song cơ hội như vậy không nhiều. Điều có ý nghĩa nhất là việc con người đầu tư vào đất đai để cải tạo hoặc nâng cao chất lượng đất. Trong một chừng mực nhất định, điều này cũng tương đương với việc mở rộng diện tích đất đai). Chính tính chất tương đối cốđịnh này khiến cho cung đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác nói chung kém co giãn hơn so với cung về các yếu tố sản xuất khác. Vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, nhà xưởng… là những hàng hóa do con người tạo ra, được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác. Tính chất nhân tạo này khiến cho cung về vốn có khả năng co giãn mạnh hơn so với các yếu tố sản xuất khác. Lao động là một loại đầu vào đặc biệt dường nhưđứng trung gian giữa đất đai và vốn. Nguồn cung lao động không dễ dàng được tạo ra như vốn song cũng không cũng không quá khó thay đổi như các tài nguyên của thiên nhiên. Các quá trình dân số, hoạt động giáo dục, đào tạo… có tác động lớn đến nguồn cung về lao động. Các hoạt động này đều có thể phản ứng trước sự thay đổi trong mức lương trên thị trường. Vì thế, cung lao động, xét một cách tổng thể, có thể không co giãn mạnh như cung vốn, song cũng không quá kém co giãn như cung vềđất đai.

Cung về các yếu tố sản xuất cũng bị chi phối bởi yếu tố thời gian. Trong dài hạn, do người sở hữu các yếu tố có khoảng thời gian dài hơn để phản ứng với những thay đổi trong các điều kiện thị trường, cung về các yếu tố thường co giãn mạnh hơn so với cung ngắn hạn.

Các yếu tố ảnh hưởng đến cung về yếu tố sản xuất: việc phân tích chi tiết hơn cung về các yếu tố sẽđược tiến hành ở các chương sau. Ởđây, chúng ta chỉđề cập một cách sơ bộ một số yếu tố tổng quát có khả năng ảnh hưởng đến việc cung ứng (dài hạn) về các yếu tố sản xuất.

+ Sự giàu có: Càng giàu có, người ta càng có xu hướng giữ nhiều nguồn lực hơn nhằm phục vụ các mục đích cá nhân (muốn có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn, muốn có nhiều đất đai hơn để làm nhà ở, vườn tược, thậm chí công viên nhằm thỏa mãn nhu cầu riêng của mình và gia đình…). Xét riêng khía cạnh này, điều đó làm giảm nguồn cung về yếu tố trên thị trường.

+ Tập quán xã hội và các quy định pháp luật: Ở một số nước phụ nữ bị ngăn cấm hoặc không được khuyến khích tham gia thị trường lao động. Họ thường bị giới hạn trong chức năng của những người nội trợ, chăm sóc con cái hay những người làm việc nhà. Trong khi đó, ở các nước phát triển, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào thị trường lao động tương đối cao. Pháp luật của một số nước cũng cản trở các giao dịch đất đai một cách tự do trên thị trường. Những khía cạnh như vậy trong truyền thống, tập quán hay hệ thống luật pháp xã hội cũng ảnh hưởng đến sự cung ứng các nguồn lực đầu vào.

+ Đầu tư và tiết kiệm xã hội: nguồn vốn hiện vật của xã hội được tích lũy qua nhiều năm, nhiều thế hệ. Nó là kết quả của một quá trình phát triển dài lâu. Không phải ngẫu nhiên các nước phát triển thường có nguồn vốn dồi dào cho sản xuất trong khi đó, ở các nước nghèo, nguồn vốn này tương đối hạn hẹp. Môi trường thuận lợi cho đầu tư và tiết kiệm có ý nghĩa lớn đối với việc gia tăng nguồn cung về vốn, đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa và mở cửa của các nền kinh tế hiện nay.

+ Các quá trình dân số: quy mô và cơ cấu dân số, các quá trình di cư, nhập cư cũng có ảnh hưởng lớn đến nguồn cung về lao động trên thị trường. Nói một cách tổng quát, một quốc gia đông dân thường có nguồn cung lao động dồi dào. Tuy nhiên, cung lao động thật sự còn phụ thuộc vào cơ cấu dân số vì chỉ một bộ phận dân số nhất định tham gia vào lực lượng lao động. Chẳng hạn, tính chất “già” hay “trẻ” của cơ cấu dân sốở một nước sẽ tác động không nhỏđến nguồn cung lao động của nước này trong tương lai. Ngoài ra, những yếu tố về truyền thống, dân tộc, tôn giáo cũng như kinh tếđều có thểảnh hưởng đến tỷ lệ tham gia của dân số vào lực lượng lao động…

2.Cân bằng cung, cầu về yếu tố sản xuất trên thị trường cạnh tranh (ngắn hạn, dài hạn)

Giả sử trên một thị trường về một yếu tố sản xuất đường cầu thị trường là D1 và đường cung thị trường là S1. Trạng thái cân bằng của thị trường tương ứng với điểm E, giao điểm của đường cầu D1 và đường cung S1. Tại trạng thái này, thị trường xác định một mức giá thuê cũng như một khối lượng yếu tố cân bằng. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, khi điểm cân bằng chưa được xác lập và hiện tượng dư cung hoặc dư cầu tồn tại thì luôn luôn tồn tại những áp lực để hướng thị trường sớm hội tụ vềđiểm cân bằng

Những yếu tố tác động đến cầu hoặc cung về yếu tố sản xuất sẽ làm đường cầu hoặc đường cung trên thị trường chuyển dịch. Kết quả là mức giá và lượng giao dịch cân bằng trên thị trường cũng thay đổi. Ởđây khuôn mẫu phân tích chung về cung, cầu mà chúng ta đã biết hoàn toàn thích hợp. Chẳng hạn, khi nhu cầu về nhà ở tăng lên do dân số và thu nhập của họ tăng lên làm cho giá nhà tăng lên mạnh. Nếu các điều kiện khác là giữ nguyên thì sự kiện này sẽ khiến cầu về lao động trong ngành xây dựng tăng lên (do doanh thu sản phẩm biên của lao động MRPL tăng lên). Đường cầu về lao động xây dựng dịch chuyển sang phải. Tại điểm cân bằng điển hình, số lượng lao động làm việc trong ngành cung như tiền lương của họ sẽ tăng lên  (hình 7.10). Những yếu tố khác tác động đến doanh thu sản phẩm biên của một đầu vào, như chúng ta đã biết, sẽ tác động đến cầu vềđầu vào này. Ngược lại, đường cung về một loại đầu vào trên thị trường sẽ dịch chuyển nếu các yếu tố tác động đến cung thay đổi. Ví dụ, khi lao động nhập cưđột ngột tăng lên, cung về lao động nói chung trong nền kinh tế và cung lao động trong ngành xây dựng chẳng hạn sẽ tăng lên. Cân bằng trên thị trường lao động sẽ thay đổi theo hướng làm cho tiền lương thị trường giảm xuống mặc dù lượng lao động được sử dụng sẽ nhiều hơn.

Trong ngắn hạn, đường cầu về một loại yếu tố sản xuất thường phụ thuộc vào những biến động trên thị trường đầu ra cũng như khả năng điều chỉnh các yếu tố sản xuất khác của doanh nghiệp. Vì trong ngắn hạn, có một số yếu tố sản xuất mà doanh nghiệp rất khó điều chỉnh nên nói chung người ta cho rằng đường cầu trong ngắn hạn về một loại yếu tố sản xuất (khả biến hay dễ thay đổi) thường dốc hơn đường cầu dài hạn của chính nó. (Trong dài hạn, khi những biến động trên thị trường khiến nhu cầu về yếu tố sản xuất A tăng lên thường cũng làm cho nhu cầu về yếu tố sản xuất bổ sung B khác tăng lên. Khi có nhiều B hơn để phối hợp, sản phẩm biên của A nói chung tăng lên. Vì thế, trong dài hạn, sự tăng lên trong giá thuê yếu tố sản xuất A thường kéo theo sự gia tăng trong lượng cầu về A nhiều hơn so với ngắn hạn).

Sự phân biệt như vậy giữa ngắn hạn và dài hạn nhìn chung cũng thích hợp với lĩnh vực cung ứng yếu tố sản xuất. Nói chung trong dài hạn khả năng điều chỉnh các quyết định cung ứng trên thị trường yếu tố sản xuất thường dễ thực hiện hơn so với trong ngắn hạn. Vả lại, một loại yếu tố sản xuất thường được sử dụng trong nhiều ngành kinh tế khác nhau (ví dụ những lập trình viên máy tính hay những người lái xe tải có thể làm việc ở nhiều ngành khác nhau). Khi cân bằng ngắn hạn trên các thị trường ngành về yếu tố sản xuất tạo ra sự khác biệt đáng kể về giá cả hay tiền thuê thì sẽ diễn ra sự di chuyển về yếu tố sản xuất giữa các ngành. Ví dụ, tiền thuê ô tô tải dùng trong ngành xây dựng cao hơn hẳn so với tiền thuê ô tô tải ở trong ngành than. Những người sở hữu những chiếc xe tải sẽ rút một phần xe cung ứng trong ngành than để chuyển sang cho thuê ở ngành xây dựng. Ta nói, trong trường hợp này, do sự chênh lệch về tiền thuê, cung về xe tải trong ngành xây dựng sẽ tăng lên, đồng thời cung về xe tải trong ngành than giảm xuống. Vì những lý do kiểu này, trong dài hạn, những biến động về lượng cung về một yếu tố sản xuất trước một sự thay đổi nhất định về tiền thuê của yếu tố sản xuất sẽ lớn hơn trong ngắn hạn (trong ngắn hạn, nếu tiền thuê xe tải trong ngành xây dựng tăng, lượng cung ứng về xe tải trong ngành cũng tăng song không tăng mạnh được như trong dài hạn vì nhiều ràng buộc: trong ngắn hạn, sự di chuyển xe tải từ các ngành khác sang ngành xây dựng sẽ bị hạn chế  bởi những hợp đồng cho thuê đã ký; trong một thời gian quá ngắn, tổng dự trữ về xe tải trong nền kinh tế là tương đối cốđịnh, do đó, cần có một thời gian nhất định thì người ta mới có thể gia tăng mạnh lượng xe tải sản xuất ra…). Nói một cách khác, đường cung dài hạn về một loại yếu tố sản xuất nói chung được hình dung là một đường thoải hơn so với đường cung ngắn hạn của chính nó.

Do những khác biệt trên mà trong ngắn hạn, những thay đổi trên thị trường thường được phản ánh nhiều hơn trong những biến động về giá (tiền thuê các yếu tố sản xuất) trong khi đó, trong dài hạn, những thay đổi về lượng giao dịch lại thường thể hiện rõ rệt hơn.

3.Tiền thuê (yếu tố) tối thiểu và tiền thuê kinh tế 

Tiền thuê tối thiểu của một yếu tố sản xuất khi nó được sử dụng như một đầu vào của một quá trình sản xuất nào đó là mức tiền tối thiểu mà người ta phải trảđể có thể thu hút được yếu tố này vào quá trình trên.

Một vài ca sỹ yêu nghề và trung kiên có thể “làm nghề” thậm chí với mức lương bằng không. Trong trường hợp ấy, tiền công (đối với lao động tiền thuê chính là tiền công) tối thiểu để lôi cuốn những người nghệ sĩ này vào hoạt động biểu diễn là bằng không. Được biểu diễn, được ca hát, được giao lưu với công chúng, được thể hiện mình, được nhiều người hâm mộ… đối với họ như thếđã là đủđể có thểđứng trên sàn diễn. Tất nhiên, đối với một số nghệ sĩ khác, tiền trả tối thiểu phải cao hơn mới đủ hấp dẫn họ làm việc trong nghề. Với những người này, tiền công tối thiểu có thể là W1. Để lôi cuốn thêm một sốđơn vị yếu tố nào đó tham gia vào quá trình sản xuất thường người ta phải nâng mức tiền thuê tối thiểu lên. Mỗi điểm trên đường cung về một loại yếu tố sản xuất cho ta biết mức tiền thuê tối thiểu để có thể mở rộng nguồn cung ứng yếu tốđó đến số lượng nào. Nếu đường cung yếu tố là một đường nằm ngang, mức tiền thuê tối thiểu luôn là bằng nhau với mỗi đơn vị yếu tố cung ứng. Nếu đường cung yếu tố là một đường hoàn toàn thẳng đứng, tiền thuê tối thiểu của yếu tố sản xuất này là bằng không. Thông thường đường cung yếu tố dốc lên cho biết ở những mức tiền thuê tối thiểu khác nhau, số lượng yếu tố sản xuất sẵn sàng tham gia vào quá trình sản xuất cũng khác nhau. Để thu hút được số lượng yếu tố tham gia lớn hơn, tiền thuê tối thiểu phải tăng lên.

Giả sử tại điểm cân bằng E (xem hình 7.11), tiền thuê tối thiểu để thu hút người ca sỹ cuối cùng tham gia vào ngành W*. Điểm E không chỉ nằm trên đường cung mà còn nằm trên đường cầu về lao động của các ca sỹ. Nó cho ta thấy, các doanh nghiệp tổ chức biểu diễn có thể và cần thuê đến người ca sỹ cuối cùng này vì giá trị sản phẩm biên của anh ta (hay chị ta) cũng chính là W*. Lượng lao động của các ca sỹđược thuê cân bằng ở mức L*. Tuy nhiên, khi những người lao động như nhau thường được trả những mức tiền công như nhau (chú ý rằng ởđây chúng ta đã quy đổi và tiêu chuẩn hóa để mỗi đơn vị lao động – mỗi giờ biểu diễn chẳng hạn- của các ca sỹđều có chất lượng tương đương nhau), W* sẽ trở thành mức tiền công hay tiền thuê mà tất cả các ca sỹđều được nhận. Giờđây bắt đầu có sự khác biệt giữa tiền thuê tối thiểu và tiền thuê kinh tế.

Giả sử chúng ta có thể biết chính xác tiền công tối thiểu của từng ca sỹ và chỉ trả cho mỗi người đúng bằng mức tiền công tối thiểu ấy. Tổng số tiền công tối thiểu để thu hút L* đơn vị lao động của các ca sỹ có thểđược đo bằng chính là diện tích tam giác AEL*. Đó chính là tổng số tiền thấp nhất mà người ta phải trảđể nhận được sự phục vụ của L* đơn vị lao động của các ca sỹ.

Trên thực tế, mỗi ca sỹđều nhận được mức tiền thuê W* như nhau cho mỗi đơn vị biểu diễn. Tổng số tiền mà người ta phải trả cho các ca sỹ là W*.L* hay có thể thể hiện bằng diện tích hình chữ nhật OW*EL*. Phần chênh lệch giữa tổng số tiền thuê mà người ta phải trả và tổng số tiền thuê tối thiểu ứng với một lượng yếu tố sản xuất nào đó chính là số tiền thuê kinh tế của yếu tố sản xuất này tại số lượng đang xem xét. Ở mức cân bằng trên thị trường lao động của các ca sỹ nói trên, diện tích hình thang AOW*E chính là biểu thị tổng số tiền thuê  kinh tế.

Tiền thuê kinh tế là số tiền trả thêm ngoài tiền thuê tối thiểu khi lôi cuốn một yếu tố sản xuất nào đó vào quá trình sản xuất. Với cách phân tích ở trên, có thể thấy, khi đường cung yếu tố sản xuất là nằm ngang, tiền thuê kinh tế là bằng không. Khi đường cung yếu tố là hoàn toàn thẳng đứng, tất cả tiền thuê đều là tiền thuê kinh tế.

Khái niệm tiền thuê kinh tế dùng trong phân tích thị trường yếu tố cũng tương tự như khái niệm thặng dư sản xuất áp dụng cho các thị trường đầu ra.

Sự phân biệt tiền thuê tối thiểu và tiền thuê kinh tế rất có ý nghĩa khi ta xem xét những thị trường yếu tố mà đường cung tỏ ra là kém co giãn hay tương đối dốc đứng (thị trường của các ca sỹ ngôi sao, của các cầu thủ bóng đá tài năng hay thị trường đất đai…). Khi nhu cầu thị trường về các yếu tố này cao, tiền thuê yếu tố cân bằng sẽ cao. Sẽ có một sự chênh lệch khá lớn giữa tổng số tiền thuê và tổng số tiền thuê tối thiểu. Khi nhu cầu thị trường về yếu tố này hạ xuống, các yếu tố sản xuất này vẫn tiếp tục được thu hút với số lượng gần như cũ vào quá trình sản xuất song với một tổng số tiền thuê thấp hơn nhiều. Cái bị cắt giảm ởđây chủ yếu là tiền thuê kinh tế. Khi người ta vẫn trảđược tiền thuê tối thiểu cho một yếu tố nào đó, người ta vẫn lôi cuốn hay thu hút được yếu tố này vào quá trình kinh tế.