Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Theo Klaus Schwab (2018, trang 19) thì “Cách mạng đã xảy ra suốt chiều dài lịch sử, khi công nghệ và những cách nhìn nhận mới mẻ về thế giới châm ngòi cho các thay đổi sâu sắc trong hệ thống kinh tế và cấu trúc xã hội”. Với quan niệm như trên thì trong lịch sử đã và đang trải qua các cuộc cách mạng công nghiệp sau:

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tiến hành đầu tiên ở nước Anh, bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XVIII và kết thúc vào những năm 40 của thế kỷ XIX, với việc phát minh ra máy hơi nước và đưa vào sử dụng đã làm cho nước Anh trở thành công xưởng của thế giới và London trở thành một trung tâm thương mại với 80 vạn dân vào giữa thế kỷ XIX. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất này sau đó đã lan tỏa sang các nước khác như Pháp và Đức…

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, với sự ra đời của điện năng và sử dụng điện năng vào sản xuất, cùng với dây chuyền lắp ráp đã thúc đẩy sản xuất hàng loạt.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba: còn được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số, bắt đầu vào những năm 1960, với sự ra đời của chất bán dẫn và máy tính cỡ lớn (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980), mạng internet (thập niên 1990) và sản xuất tự động dựa vào máy tính.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã bắt đầu vào thời điểm chuyển giao sang thế kỷ này và được hình thành trên cuộc cách mạng số. Phạm vi rộng lớn với những công nghệ mới như các phương tiện không người lái, công nghệ in 3D, rô  bốt cao cấp, vật liệu mới, internet kết nối vạn vật (Internet of Things – IoT), công nghệ sinh học đặc biệt là trong lĩnh vực di truyền… Những công nghệ mới nổi này được khuếch tán với tốc độ vô cùng nhanh chóng và phạm vi sử dụng thì ngày càng rộng rãi. Bên cạnh tốc độ và phạm vi, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn có thể được xem là độc đáo bởi sự kết hợp hài hòa và khả năng tích hợp nhiều loại công nghệ mới khác nhau này.

Với sự ra đời của những công nghệ mới từ những năm 1960 đến nay đã tác động đến trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất ở các nước công nghiệp phát triển như sau:

Một là, thúc đẩy quá trình hình thành nền kinh tế tri thức, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải và nâng cao chất lượng cuộc sống. Như vậy, trong nền kinh tế tri thức thì tri thức và tiến bộ khoa học – công  nghệ giữ vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Do đó, Klaus Schwab cho rằng “cấp quản lý cần chuẩn bị lực lượng và phát triển mô hình đào tạo để người lao động sẵn sàng làm việc cùng với những máy móc ngày càng thông minh, có năng lực và được kết nối” (Klaus Schwab, 2018, trang 74).

Hai là, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tỷ trọng các nhóm ngành nông – lâm – thủy sản và công nghiệp – xây dựng trong GDP có xu hướng giảm xuống, ngược lại tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP có xu hướng tăng lên. Trong nền kinh tế, các ngành dựa nhiều vào tri thức và công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn đóng vai trò quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế; các ngành này cũng có tốc độ phát triển nhanh nhất nên có xu hướng gia tăng về tỷ trọng trong GDP và trong giá trị sản xuất. Đó có thể là các ngành khoa học – công nghệ làm nền tảng cho phát triển kinh tế tri thức như công nghệ tự động hóa, công nghệ năng lượng mới, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và công nghệ môi trường…; nhưng đó cũng có thể là các ngành kinh tế – sản xuất như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ dựa nhiều vào tri thức và công nghệ cao.

Ba là, làm phân công lại lao động xã hội theo hướng sau: tỷ trọng lao động nhóm ngành nông – lâm – thủy sản và công nghiệp – xây dựng trong tổng lao động xã hội có xu hướng giảm xuống, ngược lại tỷ trọng lao động nhóm ngành dịch vụ có xu hướng tăng lên. Tương tự, tỷ trọng lao động chưa qua đào tạo trong tổng lao động xã hội cũng có xu hướng giảm xuống, ngược lại tỷ trọng lao động đã qua đào tạo có xu hướng tăng lên.

Bốn là, dẫn đến xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế.

Những tác động như trên đối với trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất ở các nước công nghiệp phát triển có ảnh hưởng đến xu hướng, bước đi  của quá trình CNH, HĐH ở nước ta nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng trong thời gian tới.