Đa dạng hoá công cụ và hình thức tài trợ hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành điện niêm yết ở việt nam

Qua phân tích thực trạng về cơ cấu nợ vay, tác giả nhận thấy hiện nay các công ty cổ phần ngành điện niêm yết Việt Nam vẫn chưa thực hiện đa dạng hoá các công cụ và hình thức tài trợ. Đối với nguồn tài trợ từ nợ vay, các DN hiện tại chủ yếu phụ thuộc vào 2 nguồn tài trợ chính là từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (bao gồm nguồn tài trợ từ việc EVN cho vay trực tiếp và EVN cho vay lại từ các khoản vay ưu đãi nước ngoài) và các Ngân hàng thương mại. Đối với nguồn tài trợ từ vốn chủ sở hữu, các DN hiện tại chủ yếu gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu từ lợi nhuận giữ lại; việc góp vốn đầu tư của chủ sở hữu vẫn chưa được quan tâm. Việc thiếu đa dạng về công cụ và hình thức tài trợ sẽ làm gia tăng rủi ro đối với các DN trong việc sử dụng nguồn vốn huy động. Bởi vậy, các DN cần phải đa dang hoá công cụ và hình thức tài trợ để giảm thiểu rủi ro trong việc sử dụng nợ vay và đồng thời giúp các nhà quản trị DN có sự am hiểu và thành thạo đối với các phương thức tài trợ khác nhau và linh hoạt sử dụng các phương thức này theo từng thời kỳ nhằm mục tiêu tối đa hoá giá trị của DN. Để đa dạng hoá các công cụ và hình thức tài trợ, các DN cần thực hiện các biện pháp sau:

* Đối với nguồn tài trợ từ nợ vay: Các DN có thể đa dạng hoá các nguồn tài trợ từ nợ vay như sau:

Phát hành trái phiếu DN: Đây là nguồn tài trợ khá phổ biến giúp các DN huy động nguồn vốn dài hạn trên thị trường vốn với quy mô lớn. Qua phân tích thực trạng về cơ cấu nợ vay, tác giả chưa thấy các DN ngành điện niêm yết áp dụng phương thức tài trợ từ phát hành trái phiếu trong việc huy động nguồn tài trợ từ nợ Đây là phương thức huy động mà các DN cần có sự quan tâm đặc biệt đối với các DN mà hạn mức tín dụng đối với các NHTM đã gần hết hoặc đối với các DN thuộc nhóm quy mô nhỏ mà không đủ tài sản đảm bảo để tiếp cận đối với nguồn vốn tín dụng từ các NHTM. Việc phát hành trái phiếu DN đem lại cho DN nhiều lợi thế như: (i) Sử dụng được nguồn vốn huy động với quy mô lớn do việc giải ngân về nguồn vốn này được thực hiện toàn bộ mà không phải theo tiến độ hoặc lộ trình như đối với việc huy động từ các NHTM;

Giúp DN nâng cao tính chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh so với huy động vốn từ NHTM bởi vì việc huy động vốn từ NHTM buộc các DN phải có sự giải trình cụ thể về hoạt động sản xuất kinh doanh và phải mất một khoảng thời gian nhất định để được chấp thuận và chính điều này sẽ làm cho các DN mất đi thời cơ trong việc đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, đây cũng là giải pháp giúp các DN giảm thiểu chi phí sử dụng vốn bởi vì trong một số trường hợp khi lãi suất thị trường ở mức thấp việc phát hành trái phiếu với lãi suất cố định, kỳ hạn dài, DN sẽ tận dụng được nguồn vốn với chi phí thấp. Trong khi đối với hình thức đi vay ngân hàng thông thường, lãi suất thường là thả nổi và sẽ được rà soát thay đổi định kỳ.

Sử dụng chứng khoán lai ghép trong huy động vốn: Giải pháp này giúp các DN gia tăng tính hấp dẫn của hình thức phát hành trái phiếu DN trong việc huy động vốn. Theo đó, các DN nên phát hành các loại trái phiếu có những điều kiện đi kèm để thu hút các nhà đầu tư, chẳng hạn như phát hành trái phiếu chuyển đổi, phát hành trái phiếu có quyền mua cổ phiếu, trái phiếu có bảo đảm.

Thuê tài chính: Là một hình thức huy động vốn trung và dài hạn. Thuê tài chính là việc nhận một khoản tín dụng trung, dài hạn thông qua việc thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác từ công ty cho thuê tài chính, qua đó bên đi thuê có thể sử dụng tài sản thuê và thanh toán dần tiền thuê trong suốt thời hạn đã được thoả thuận. Bên đi thuê tài chính không có quyền hủy ngang hợp đồng. Khi các DN vay vốn dài hạn bằng hình thức thuê tài chính sẽ gặp nhiều thuận lợi như: Hạn chế được sự lạc hậu của máy móc, thiết bị; không bị ảnh hưởng bởi hạn mức tín dụng; bên đi thuê không bị ứ đọng vốn trong tài sản cố định; bên đi thuê được tài trợ nhanh chóng, kịp thời; xuất phát từ sự đơn giản về thủ tục thiết lập hợp đồng; tiền thuê được thanh toán linh hoạt. [18]

Huy động vốn qua các quỹ đầu tư hoặc công ty mạo hiểm: Đây là hình thức huy động vốn mà các DN thuộc nhóm quy mô nhỏ có thể cân nhắc trong trường hợp gặp khó khăn trong việc huy động đối với các kênh huy động từ phát hành trái phiếu DN hoặc thuê tài chính. Đối với việc huy động bằng phương thức này, yêu cầu đặt ra đối với các DN là các dự án đầu tư phải có đủ sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và đem lại khả năng sinh lời cao. Việc huy động vốn qua phương thức này sẽ giúp cho các DN đa dạng hoá nguồn tài trợ, giảm thiểu chi phí sử dụng vốn và giảm thiểu rủi

* Đối với nguồn tài trợ từ vốn chủ sở hữu: Các DN có thể thực hiện đa dạng hoá nguồn tài trợ từ vốn chủ sở hữu như sau:

Đối với nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại: Việc sử dụng nguồn tài trợ từ lợi nhuận giữ lại sẽ giúp các DN chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn, gia tăng tính độc lập tài chính, giảm thiểu sự phụ thuộc vào các chủ thể bên ngoài. Nguồn tài trợ từ lợi nhuận giữ lại của các DN sẽ phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN và chính sách phân phối lợi nhuận của các Trong giai đoạn nghiên cứu, tỷ trọng lợi nhuận giữ lại trên tổng nguồn vốn chủ sở hữu đều có xu hướng gia tăng đối với cả 3 loại hình DN là quy mô lớn, trung bình và nhỏ. Như vậy, yêu cầu đặt ra đối với các DN này là phải tiếp tục hoàn thiện chính sách phân phối lợi nhuận theo hướng gia tăng hơn nữa đối với nguồn lợi nhuận giữ lại và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để tạo ra sự gia tăng đối với quy mô nguồn lợi nhuận giữ lại.

Đối với phần vốn góp của chủ sở hữu: Đây là phần vốn góp nhằm hình thành vốn điều lệ để đáp ứng nhu cầu vốn tăng thêm của DN chủ yếu phục vụ cho việc tài trợ đối việc tài trợ đầu tư hình thành tài sản của DN. Việc gia tăng vốn góp của chủ sở hữu sẽ ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô và triển vọng tăng trưởng của các Phần vốn góp này thông thường được các DN gia tăng thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc gia tăng bằng phần lợi nhuận giữ lại thông qua việc chia cổ tức bằng cổ phiếu cho các cổ đông của DN. Trong giai đoạn nghiên cứu, tỷ trọng vốn góp của chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn chủ sở hữu có sự gia tăng nhẹ đối với cả 3 loại hình DN. Như vậy, yêu cầu đặt ra đối với DN là cần phải đẩy mạnh việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư đối với các dự án kinh doanh tạo cơ sở cho việc gia tăng phần vốn góp của chủ sở hữu qua việc phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Để gia tăng phần vốn góp này, các DN có thể thực hiện gia tăng qua các nguồn sau:

Phát hành cổ phiếu thường: Phương thức này được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu như: chào bán riêng lẻ và chào bán rộng rãi ra công chúng. Việc thực hiện phương thức này sẽ gặp thuận lợi trong điều kiện triển vọng khả quan của thị trường vốn, sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế.

Phát hành cổ phiếu ưu đãi: Trong trường hợp thị trường chứng khoán bị suy thoái thì việc phát hành cổ phiếu thường là không dễ dàng và các DN có thể gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu qua việc phát hành cổ phiếu ưu đãi. Phương thức này giúp các DN gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu mà không làm chia sẻ hay pha loãng quyền kiểm soát DN do cổ đông ưu đãi không có quyền biểu quyết đến các quyết định sản xuất kinh doanh của

Phát hành cổ phiếu bằng cách cấn trừ nợ: Việc phát hành cổ phiếu bằng phương thức cấn trừ nợ là cách thức chuyển đổi phần nợ vay thành vốn góp của chủ sở hữu và sẽ làm chuyển đổi vai trò của chủ nợ thành chủ sở hữu của DN. Với phương thức này, những DN hiện đang gặp khó khăn về khả năng đáp ứng đối với nghĩa vụ nợ đặc biệt trong trường hợp đang lâm vào nguy cơ mất khả năng thanh toán có thể thoát khỏi áp lực này để cơ cấu lại nguồn vốn phục hồi năng lực sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, phương thức này chỉ được thực hiện trên cơ sở có sự cam kết và thoả thuận giữa DN và chủ nợ và chỉ được thực hiện dưới sự chấp thuận của chủ nợ.

Trả cổ tức bằng cổ phiếu: Phương thức này cũng giúp DN gia tăng phần vốn góp của chủ sở hữu. Điểm lợi thế của phương thức này được thể hiện thông qua việc trả cổ tức không phải chịu thuế và được tái đầu tư vào DN. Ngoài ra, phương thức này thể hiện ưu thế trong ngắn hạn giúp DN vừa gia tăng vốn chủ sở hữu vừa đảm bảo giúp DN giữ lại phần lợi nhuận để tái đầu tư.