Đặc điểm hoạt động của các công ty xuyên quốc gia

a. Các Công ty xuyên quốc gia ở việt nam có nguồn gốc từ nhiều nước nhưng phổ biến là từ các nước đang phát triển

Thực tiễn hoạt động của các tnc trên thế giới đã cho thấy 90% số công ty có nguồn gốc từ một nước.Do đó căn cứ vào dánh sách tên các quốc gia lãnh thổ có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam chúng ta có thể nhận diện một cách đầy đủ nguồn gốc của các tnc.Từ năm 88-97 phần đầu tư của các tnc đông á chiếm tới 64,8% trong số 10 nước đầu tư lớn nhất vào việt nam.Năm 98 kinh tế đông á lâm vào khủng hoảng tài chính tiền tệ thì mức này vẫn chiếm tới 44,9% và năm 1999 sau sự phục hồi của các nền kinh tế đông á mức này đã tăng trở lại với mức 60,4%.trong số các công ty nước ngoài đầu tư vào việt nam thì các nhà đầu tư thuộc asean chiếm 24,56%.như vậy vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào việt nam có nguồn gốc chủ yếu là các nền kinh tế châu á.các tnc châu á với phần lớn là các nền kinh tế đang phát triển và hầu hết các nước này đều chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 sự khó khăn của các tnc này đã kéo theo sự thu hẹp các khoản đầu tư mới cũng như sự trì trệ trong việc thực hiện số vốn đầu tư đã cam kết .cũng vì thế tuy tổng mức vốn cam kết đầu tư của các tnc ở châu á là rất lớn song mức vốn thực hiện lại rất thấp thường chỉ đạt bình quân 20% trong khi mức thực hiện này từ các tnc âu-mỹ thường đạt từ 38-70% thậm chí có công ty đạt trên mức vốn đã cam kết.có nhiều lý do liên quan đến vấn đề này trong đó năng lực tài chính yếu kém và công nghệ kỹ thuật luôn là những vấn đề nổi cộm từ các các tnc thuộc các nước đang phát triển hoặc các tnc đầu tư vào việt nam không xuất phát từ công ty mẹ mà là từ các công ty thuộc thế hệ thứ hai nghĩa là từ các công ty chi nhánh ở nước thứ hai đầu tư vào nước thứ ba.phản ánh một thực tế mới của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động toàn cầu trong nội bộ các tnc hiện nay.do quy mô không lớn và trình độ công nghệ không cao những công ty này thâm nhập vào việt nam theo một chiến lược kinh doanh đa dạng hoá do công ty mẹ điều chỉnh nhằm hoặc để chuyển một phần năng lực sản xuất thừa sang khu vực lãnh thổ khác hoặc phân tán rủi ro giảm bớt tổn thất kinh doanh hoặc thừa hành cắm nhánh theo hiệu ứng làn sóng trong chuyển dịch cơ cấu để tận dụng các lợi thế so sánh ở nước đối tác nhằm đảm bảo chắc chắn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.một lý do khác các tnc châu á luôn coi thị trường đông nam á trong đó có việt nam là thị trường truyền thống của họ do đó sự phổ biến của các tnc châu á ở việt nam là điều dễ hiểu.đây chính là đặc điểm bao quát các tnc châu á và các doanh nghiệp việt nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong xử lý các quan hệ lợi ích khi hai bên đều rất hiểu nhau do gần gũi nhau về địa lý ,về văn hóa chính trị về kinh tế.ở đây trong hoạt động của các tnc còn hàm chứa rất nhiều những vấn đề tế nhi về phương diện kinh tế và chính trị .

b. Các công ty xuyên quốc gia hoạt động ở việt nam phần lớn đều thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong 500 tập đoàn lớn nhất được bình chọn hàng năm, ở việt nam cho đến nay mới chỉ có 10% trong số đó có dự án đầu tư và thiết lập các quan hệ giao thương hàng hoá dịch vụ và công nghệ .hiện trạng này còn nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan thứ nhất là lợi thế so sánh chủ yếu của việt nam hiện tại chủ yếu là lao động rẻ nguyên liệu rẻ và thị trường rộng lớn những ngành sản suất tận dụng các lợi thế này chủ yếu là những nghành sử dụng nhiều lao động và công nghệ chuyển giao thường không cao .trong điều kiện toàn cầu hoá khi lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế đã chuyển trọng tâm sang cho các nghành đòi hỏi có hàm lượng cao về công nghệ và chi thức thì theo lôgic của sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế toàn cầu phần xâm nhập sâu vào thị trường việt nam chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp vừa và nhỏ.thứ hai như trên đã phân tích phần đầu tư và chu chuyển thương mại ở việt nam được thực hiện chủ yếu bởi các tnc châu á.thứ ba sự yếu kém về hạ tầng cơ sở về môi trường đầu tư về năng lực và thẩm định dự án đầu tư của phía việt nam đang có nhiều bất cập so với yêu cầu đòi hỏi từ các phía đối tác nước ngoài là các tập đoàn xuyên quốc gia lớn.thứ tư cho đến nay việt nam mới đang ở những bước đầu tiên của tiến trình hội nhập quốc tế .

c. Việt Nam đã thu hút tncvào hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội trong đó lĩnh vực công nghệ khai thác và linh vực khách sạn du lịch được coi là địa bàn hấp dẫn và thu hút nhiều nhất các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đầu năm 99 việt nam đã cấp 33 giấy phép cho các tập đoàn dầu khí lớn nhất thế giới của cả 4 châu lục bắc mỹ châu âu châu úc và châu á theo các hợp đồng phân chia sản phẩm để thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa việt nam .lĩnh vực khách sạn và du lịch cũng tỏ ra là một đối tượng hấp dẫn các tnc.vì các lĩnh vực này đầu tư vốn ít và thu hồi vốn nhanh lợi nhuận cao đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.do vậy đến cuối năm 1998 việt nam đã có 237 dự án đầu tư xây dựng khách sạn.đây là lĩnh vực hoạt động dịch vụ dễ sinh lời nên việt nam đang cố gắng phát triển thu hút các tnc lớn vào lĩnh vực này.việt nam cũng đã chú trọng phát triển và thu hút các tnc vào linh vực bưu chính viễn thông .đây là lĩnh vữ dịch cụ cao cấp nền kinh tế hiện đại và từ một nền tảng không đáng kể đây còn là linh vực mà việt nam có thể thực hiện phương châm đi tắt đón đầu để thu hút những công nghệ tiên tiến nhất.

d. Sự hiện diện của các tnc tại việt nam được tồn tại dưới hình thức liên doanh là phổ biến và đối tác liên doanh với các nước tnc từ phía việt nam lại phổ biến là các doanh nghiệp nhà nước

Từ những năm 88 đến năm 98 hình thức liên doanh chiếm 61% số dự án và 70% tống số vốn cam kết đầu tư.sự liên doanh giữa các tnc là các công ty tư nhân công ty cố phần với các doanh nghiệp việt nam chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước.

e. Việt Nam đã tạo dựng môi trường đầu tư nhằm hấp dẫn các tnc kinh doanh công nghiệp dịch vụ bằng việc thu hút đầu tư và mở rộng mạnh mẽ các khu công nghiệp ,khu chế xuất và khu công nghệ cao

Việt Nam nhất thiết phải có nững chiến lược của riêng mình để thu hút hiệu quả hoạt động của các tnc. khắc phục tình trạng yếu kém về hạ tầng cơ sở vật chất và để cho các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể phát huy ngay được hiệu quả được thụ hưởng các ưu đãi của nhà nước.chính phủ việt nam đã đáp ứng các yêu cầu của các tnc bằng việc phát triển đồng thời cả khu công nghiệp và khu chế xuất nếu như khku chế xuất hướng chủ yếu vào thị trường xuất khẩu thì khu công nghiệp cùng lúc có thể đáp ứng cả yêu cầu xuất khẩu và yêu cầu phục vụ thị trường nội địa.như vậy việc xây dựng khu công nghiệp khu chế xuất và khu công nghệ cao trở thành tầng cơ sở và khung môi trường đầu tư cho mọi tnc hiên đại vừa và nhỏ đều có thể thâm nhập vào thị trường việt nam.