Đặc điểm ngành dịch vụ bảo hiểm

 

Quá trình tự do hóa dịch vụ bảo hiểm diễn ra mạnh mẽ trong thập kỷ qua tại các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển. Xét về qui mô họat động, các nước công nghiệp phát triển chi phối thị trường bảo hiểm. Năm 2004, các nước Tây Âu chiếm gần 37%, Hoa Kỳ chiếm gần 37% còn Nhật Bản chỉ chiếm 15% thị trường. Toàn bộ các thị trường mới phát triển chỉ chiếm 9% doanh thu toàn cầu, còn các nước ASEAN chỉ chiếm 0,85%. Tuy nhiên trong thập kỷ qua, các nước mới phát triển đã đạt được tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm tương đối cao trong cả lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ so với các thị trường đã bão hòa ở các quốc gia phát triển.

Ngành bảo hiểm đóng góp giá trị lớn trong GDP. Năm 2004, doanh thu phí bảo hiểm chiếm tới 9,2% GDP tại Bắc Mỹ, 8,4% tại Châu Âu và 10,5% tại Nhật Bản. Số liệu cho thấy các quốc gia Nam và Đông á có tỉ lệ này tương đối thấp, khoảng 5,2%. Năm 2004 (so với năm 2000), Trung Quốc có tỉ lệ 3,26% (1,79%), Malaixia 5,40% (3,72%), Thái Lan 3,52% (2,53%) và Việt Nam chỉ có 2,02% (0,53%).

Tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm trên GDP là một chỉ tiêu đánh giá tiềm năng phát triển. Tỷ lệ này thể hiện mối quan hệ giữa chi tiêu cho bảo hiểm (doanh thu phí bảo hiểm/ đầu người) và sản xuất của hộ gia đình (GDP/đầu người). Sức mua của hộ gia đình tăng lên khi sản xuất của hộ gia đình tăng, và do đó tạo động lực cho người dân mua thêm bảo hiểm. Điều này thể hiện mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa chi tiêu bảo hiểm đầu người và GDP đầu người. Tuy nhiên, tỷ lệ này khác nhau đáng kể giữa các nước với các mức GDP đầu người khác nhau. Khi GDP đầu người rất thấp (các nước kém phát triển), của cải chỉ đủ để đáp ứng các nhu cầu thết yếu của con người và do đó nhu cầu mua bảo hiểm là thấp. Nhu cầu bảo hiểm chỉ tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của cải một chút. Khi GDP bình quân đầu người tăng lên (tại các nước như Trung Quốc, ấn Độ, Việt Nam…), tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm cao hơn nhiều lần so với tốc độ tăng trưởng của cải. Tuy nhiên, tại các nước GDP đầu người rất cao (các nước Bắc Mỹ, Tây Aau hay Nhật Bản), tốc độ tăng trưởng nhu cầu bảo hiểm lại chỉ cao hơn một chút so với tốc độ tăng trưởng sản xuất do tại các thị trường này, bảo hiểm đã đạt tới mức độ bão hòa, một tỉ lệ lớn các nhu cầu bảo hiểm đã được đáng ứng. Số liệu thống kê cho thấy, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm hàng năm tại các thị trường này cao gấp hai so với tốc độ tăng trưởng ở các nền kinh tế công nghiệp. Thêm vào đó, thị trường các nước đang phát triển có xu hướng giao động mạnh so với các nước OECD.

Chi phí bảo hiểm đầu người tại các nước công nghiệp hóa cao hơn nhiều so với chi phí này tại các nước đang phát triển. ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, chi phí bảo hiểm đầu người dao động trong khoảng 2.300 đến 3.800 đôla Mỹ, tại các nước đang phát triển, chi phí này dưới 100 đôla Mỹ một người. Họat động bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ tại các khu vực khác nhau cũng rất khác nhau. Tại các thị trường châu á đang phát triển, trừ Hàn Quốc và Malaysia, sự thâm nhập của bảo hiểm phi nhân thọ thấp hơn so với tốc độ trung bình trên thế giới. Điều này phản ánh mức bảo hiểm thấp các rủi ro công nghiệp và thiên tai, một biểu hiện của việc quản lý rủi ro kém. Ngược lại, bảo hiểm nhân thọ lại phát triển tốt.

Trong 10 năm qua, quá trình dỡ bỏ các qui định pháp lý và tự do hóa được tiến hành mạnh mẽ tại các nước châu á. Các qui định pháp lý được dỡ bỏ chủ yếu liên quan tới tham gia thị trường, hệ thống phân phối, sản phẩm và giá bán.

Đa số các quốc gia đang phát triển đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường ở một mức độ nào đó. Năm 2000, tất cả các nước đã cho các hãng bảo hiểm nước ngoài tham gia thị trường nội địa, mặc dù nhiều quốc gia vẫn còn duy trì hạn chế tỉ lệ nắm giữ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài khi thành lập công ty bảo hiểm. Ví dụ như Trung Quốc, khi trở thành thành viên WTO, các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài được phép nắm giữ 50% vốn trong các liên doanh tại Trung Quốc và được quyền tự lựa chọn đối tác Trung Quốc. Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, Trung Quốc cho phép mở chi nhánh hoặc liên doanh với tỷ lệ nắm giữ vốn của bên nước ngoài là 51% và cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 2 năm. Giấy phép họat đông được cấp hoàn toàn dựa trên các chỉ tiêu về đảm bảo khả năng tài chính và thanh toán, không áp dụng kiểm tra nhu cầu kinh tế hay hạn chế số lượng giấy phép được cấp.

Về hệ thống phân phối, Chính phủ các nước đang phát triển đã bắt đầu khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm tự xây dựng chiến lược đại lý của mình, xây dựng bảng phí hoa hồng đại lý, thay thế cho bảng phí chung do Chính phủ ban hành và mọi doanh nghiệp phải thống nhất áp dụng trước kia. Ngoài ra, nhiều quốc gia đã cho phép thực hiện tele-marketing, đặc biệt đối với bảo hiểm ôtô và tai nạn con người. Vai trò của môi giới bảo hiểm được công nhận trên thị trường.

Đa số các quốc gia đã dần dỡ bỏ các biểu phí bắt buộc đối với các loại sản phẩm bảo hiểm khác nhau và cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tự xây dựng biểu phí của mình.

Với việc dỡ bỏ các rào cản tiếp cận thị trường, thị phần của các nhà cung cấp bảo hiểm nước ngoài (sở hữu toàn bộ hay một phần) tăng gấp ba trong khoảng thời gain 1990-1999 tại Châu Mỹ Latinh, 47% tại Trung Âu và 41% tại Đông Âu. Tốc độ trung bình tại châu á là 12%, thể hiện sự dè dặt và thận trọng hơn trong việc mở cửa thị trường so với các khu vực đang phát triển khác.

Quá trình tự do hóa và dỡ bỏ các qui định pháp lý điều chỉnh thị trường không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Trong thế giới cạnh tranh toàn cầu hôm nay, bản chất và đặc điểm của việc Chính phủ các nước can thiệp vào thị trường bảo hiểm phải được đánh giá lại nhằm đảm bảo sự can thiệp là cần thiết từ mọi khí cạnh và hướng tới các mục tiêu cụ thể. Lý do quan trọng nhất để Chính phủ can thiệp vào thị trường bảo hiểm là nhằm bảo vệ người tiêu dùng – theo thuật ngữ kinh tế, là điều chỉnh sự không hoàn thiện của thị trường. Để đạt được mục tiêu này, các qui định pháp lý điều chỉnh họat động bảo hiểm phải nhàm đảm bảo chất lượng và giá cả hợp lý cảu các sản phẩm bảo hiểm cung cấp bởi các công ty bảo hiểm có độ tin cậy cao. Do đó, vai trò quan trọng của Chính phủ là thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh nhằm đạt được các mục tiêu này, đồng thời bảo vệ người tiêu dùng khỏi các họat động cạnh tranh không lành mạnh, thông đồng. Thêm vào đó, Chính phủ còn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thanh toán và độ tin cậy của các công ty bảo hiểm.

Các qui định pháp luật được mô tả dưới đây là các qui định nhằm đảm bảo phát triển một thị trường bảo hiểm cạnh tranh, có khả năng thanh toán tốt, được trích từ tài liệu Tự do hóa Thị trường bảo hiểm: Các vấn đề và sự quan tâm do OECD xuất bản:

- Đảm bảo sự đầy đủ của các qui định pháp luật

+ Luật Cạnh tranh: Chính phủ cần ban hành và thực hiện các qui định tạo khung pháp lý cho một thị trường bảo hiểm cạnh tranh hình thành và phát triển.

+ Các qui định đảm bảo khả năng thanh toán: Chính phủ cần ban hành và thực hiện các qui định nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cảu các doanh nghiệp bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng. Bên cạnh các qui định về khả năng thanh toán, Chính phủ cần ban hành các qui định, tiến hành các thủ tục nhằm phát hiện và kiểm soát các công ty bảo hiểm có tình trạng tài chính không lành mạnh.

+ Hiệu quả của các qui định pháp lý: Chính phủ cần thành lập một cơ quan quản lý nhà nước quản lý các họat động bảo hiểm, bảo vệ quyền lợi của cộng đồng và có đủ nguồn lực nhàm thực thi hiệu quả, không thiên vị các qui định pháp lý về bảo hiểm.

+ Phân giai đoạn tiến hành tự do hóa: Chính phủ cần xây dựng và thực thi các qui định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm đồng thời bảo vệ người tiêu dùng.

– Các qui định không được thiên vị: Một Chính phủ cần đảm bảo các qui định về bảo hiểm và việc thực thi các qui định này được áp dụng một cách thống nhất và không thiên vị giữa các thành phần kinh tế khác nhau.

– Hạn chế các qui định pháp l
+ Hạn chế các qui định: chỉ ban hành các qui định pháp lý thật sự cần thiết nhằm bảo vệ người tiêu dùng.
+ Các qui định về phân phối và sản phẩm: Ngoại trừ việc ban hành các qui định pháp lý và tiến hành giám sát các công ty bảo hiểm nhằm bảo vệ người tiêu dùng, Chính phủ cần để thị trường tự xác định (1) các dịch vụ tài chính cần được cung cấp, (2) Phương thức cung cấp sản phẩm, (3) giá bán của sản phẩm

+ Công bố thông tin cho người tiêu dùng: Chính phủ cần đảm bảo người tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm có thể tiếp cận với đầy đủ thông tin để họ có khả năng tự đánh giá về (1) tình trạng tài chính của công ty bảo hiểm và (2) quyền lợi và giá trị của các sản phẩm bảo hiểm.

- Qui trình xây dựng luật cần minh bạch

+ Chính phủ cần đảm bảo người tiêu dùng cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp bảo hiểm và các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác có thể tiếp cận các qui định pháp lý về bảo hiểm một cách dễ dàng.

+ Khi soạn thảo các qui định pháp lý về bảo hiểm, Chính phủ cần (1) đảm bảo người tiêu dùng, cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp bảo hiểm và các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác có thể tiếp cận các dự thảo này; (2) gửi dự thảo đi lấy ý kiến đóng góp; (3) dành đủ thời gian để các đối tượng quan tâm có thể đóng góp ý kiến; (4) đưa ra các lý do giải thích cho việc tiếp nhận hay không tiếp nhận các ý kiến đóng góp; (5) xây dựng một qui trình soạn thảo luật để tránh những quyết định độc đoán hoặc không chính đáng.

Các qui định pháp lý mô tả trên được sử dụng là chuẩn so sánh với các qui định pháp lý của Việt Nam nhằm đánh giá mức độ các qui định của Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một thị trường cạnh tranh và đảm bảo khả năng thanh toán.
Các xu hướng phát triển thị trường bảo hiểm chủ yếu dưới hình thức hợp nhất và tập trung kinh tế. Đầu năm 2004, 8% các công ty hàng đầu châu á chiếm 68% doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ của toàn thị trường châu á. 92% các công ty còn lại chỉ chiếm 32% thị phần. Xu hướng hợp nhất gần đây tại các thị trường châu á đã gây nên sức ép lớn đối với các nhà cung cấp bảo hiểm nhỏ. Sau khủng hoảng tài chính châu á, một số các công ty bị suy yếu phải sát nhập để tồn tại.

* Chỉ số Herfindahl dưới 1.000 điểm cho thấy thị trường không tập trung; giữa 1.000-1.800 cho thấy một doanh nghiệp bảo hiểm hoặc một nhóm các doanh nghiệp bảo hiểm lớn có khả năng thực hiện việc kiểm soát thị trường (kiểm soát giá hoặc kênh phân phối).

Hong Kong là khu vực thị trường duy trì môi trường pháp lý mở, có một thị trường bảo hiểm tương đối cạnh tranh. Ngược lại, Singapore, cũng là một nước có thị trường bảo hiểm phát triển, lại có chỉ số Herfindahl cao và có mức độ tập trung kinh tế lớn vào 5 doanh nghiệp bảo hiểm. Thái Lan cũng tương tự như Singapore. Trung Quốc và Việt Nam cũng là những nước có thị trường bảo hiểm tập trung, một vài nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn tới thị trường. Tuy nhiên, so sánh thị trường bảo hiểm nhân thọ với thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cho thấy, trừ Trung Quốc và Việt Nam, các nước khác đều có chỉ số Herfindahl thấp và mức độ tập trung cao.

Các nước có mức độ tập trung thị trường cao và chỉ số Herfindahl cao, có thể cần áp dụng một số biện pháp nhằm giảm thiểu, nếu không phải là loại bỏ, các nguy cơ cản trở cạnh tranh. Cấp phép cho các nhà cung cấp bảo hiểm có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm chuyên môn cũng là một giải pháp. Một giải pháp khác là tạo ra một môi trường khuyến khích các công ty bảo hiểm nhỏ hoặc các công ty cung cấp dịch vụ tài chính sát nhập và hợp nhất với nhau.

Song song với xu hướng hợp nhất là xu hướng kết hợp các dịch vụ tài chính đã hình thành nên các tập đoàn tài chính lớn tại các nước châu á như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản. Mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau giữa các dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác dẫn đến việc sát nhập giữa các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư. Việc sáp nhập này thường đem lại các lợi ích chung cho các công ty trong cùng tập đoàn.