Đặc điểm ngành Dịch vụ tài chính- ngân hàng

Để hội nhập tài chính quốc tế, điều quan trọng cần thực hiện là tự do hóa tài chính. Tự do hóa tài chính là quá trình xóa bỏ các hạn chế, các định hướng hay ràng buộc trong việc phân bổ nguồn lực tín dụng. Mọi điều tiết trong quá trình phân bổ này đều được đặt trên nền tảng cơ chế giá, tức là các định chế tài chính được quyền tự do xác định lãi suất tiền gửi và cho vay. Điều này cũng bao hàm việc xóa bỏ các mức trần lãi suất cũng như các ràng buộc khác trong việc sử dụng nguồn vốn các định chế tài chính huy động được. Tự do hóa tài chính cũng đồng nghĩa với mở rộng cạnh tranh của các định chế tài chính và chấm dứt sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa những loại hình họat động khác nhau. Tự do hóa tài chính là quá trình làm giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ và các giao dịch tài chính, hệ thống tài chính được tự do thực hiện theo các tín hiệu thị trường.

Tự do hóa tài chính, thông thường bao gồm xóa bỏ kiểm soát về lãi suất và các dịch vụ tài chính, giảm thiểu tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xóa bỏ bao cấp về vốn qua chỉ định tín dụng, tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế trên nền tảng của tự do hóa các giao dịch tài khoản vãng lai và các giao dịch tài khoản vốn.

Quá trình hội nhập quốc tế về dịch vụ tài chính có thể được hiểu theo nhiều khía cạnh. Hội nhập kinh tế quốc tế về tài chính là một quá trình mà các nước, các khu vực thực hiện mở cửa cho sự tham gia của các yếu tố bên ngoài vào trong lĩnh vực tài chính, bao gồm: vốn (đầu tư trực tiếp và gián tiếp), công nghệ, tín dụng và lao động có trình độ chuyên môn cao. Hội nhập kinh tế quốc tế và tài chính đồng thời cũng là quá trình các yếu tố trong nước đi thâm nhập vào các nước khác. Đây là quá trình diễn ra song song và đồng thời của cùng một lĩnh vực. Đó là toàn bộ hoặc từng dịch vụ tài chính được thực hiện qua biên giới hoặc qua sự hiện diện thương mại và thể nhân.

Hội nhập quốc tế về tài chính là quá trình thống nhất các thể chế, qui định, chính sách, tiêu chuẩn, chuẩn mực và kể cả luật pháp về tài chính. Thực chất của quá trình này là các nước thống nhất với nhau cách đối xử về mặt tài chính (thuế, bảo hiểm, ngân hàng…) đối với các yếu tố sản xuất kinh doanh của nhau và với nhau (cấp quốc gia) trong quan hệ kinh tế. Quá trình này cũng đồng thời là hệ quả của việc các quốc gia và doanh nghiệp cùng thực hiện việc điều chỉnh. Khi mức độ hội nhập ngày càng cao, càng rộng thì sẽ xuất hiện nhiều thông lệ hoặc qui định chung hơn để tạo ra sự thống nhất và hài hòa các chính sách tài chính giữa các nước với nhau.

Hội nhập kinh tế quốc tế về tài chính là một quá trình liên tục được thúc đẩy từ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ và kinh tế của một quốc gia. Do đó, khi các yếu tố này được nâng cao, hội nhập tài chính nhanh chóng, được tiến hành và phản ánh thông qua nhiều lĩnh vực như việc trao đổi vốn và lao động. Thêm nhiều thông lệ quốc tế cũng được hình thành để điều chỉnh quan hệ tài chính giữa các tổ chức và thể chế.

Hội nhập kinh tế quốc tế về tài chính là quá trình hợp tác. Khi mức độ giao thoa giữa các nước càng lớn thì mức độ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao. Khi đó, vấn đề đặt ra là từng bước không thể tự giải quyết các vấn đề tài chính của mình mà phải phối hợp với các nền kinh tế khác, các tổ chức kinh tế, định chế quốc tế để xử lý.

Như vậy, hội nhập quốc tế về tài chính và tiền tệ là quá trình từng bước gắn kết nền tài chính quốc gia với thế giới thông qua việc mở cửa và hợp tác quốc tế với mức độ ngày càng cao, đồng thời là quá trình điều chỉnh, thực hiện các định chế và thông lệ quốc tế về tài chính.

* Xu hướng quốc tế hóa trong họat động ngân hàng trên thế giới

Hai thập kỷ qua chứng kiến sự dịch chuyển từ xu hướng ngân hàng quốc tế sang ngân hàng toàn cầu hóa. Họat động ngân hàng quốc tế là họat động ngân hàng xuyên biên giới thể hiện qua việc huy động vốn trong nước để cho vay ở nước ngoài. Ngày nay, các ngân hàng toàn cầu thâm nhập vào thị trường nước ngoài thông qua việc thiết lập các chi nhánh và ngân hàng “con” để thu hút vốn và cung cấp các khoản vay ngay tại nước đó, cung cấp các dịch vụ như cho vay tiêu dùng, nhận thế chấp, cho vay doanh nghiệp quản lý tài sản và tham gia thị trường vốn.

Sự tăng trưởng nhanh của các ngân hàng thương mại và quá trình tự động hóa trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ đòi hỏi các ngân hàng phải duy trì ở qui mô lớn nhằm giảm thiểu chi phí. Xu hướng mở rộng mạng lưới họat động thể hiện ở việc thiết lập mới ngày càng nhiều các chi nhánh, sở giao dịch, điểm giao dịch của các ngân hàng không chỉ ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài. Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân hàng nhỏ và biến những ngân hàng này thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng đa trụ sở ngày càng phổ biến. Nhiều vụ đại hợp nhất đã diễn ra như Chemical Bank và Mitsumitsi Bank. Sự bành trướng mở rộng mạng lưới họat động về địa lý và sự sát nhập, hợp nhất giữa các ngân hàng đã vượt khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia và mở rộng ra toàn cầu. Ngày nay, có nhiều ngân hàng thương mại lớn có mặt trên tất cả các lục địa và cạnh tranh gay gắt với nhau như một số ngân hàng của Mỹ, Đức, Nhật, Pháp và Anh.

Sự phát triển của ngành ngân hàng thực sự là một động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Nền kinh tế toàn cầu ghi nhận, trong số 500 tập đoàn tài chính quốc tế lớn nhất toàn cầu tính đến cuối năm 2000, có 362 tập đoàn do ngân hàng sở hữu và điều hành, chiếm 74% tổng tài sản của 500 tập đoàn này. Hơn nữa, nhiều tập đoàn tài chính quốc tế lớn đã và đang sát nhập và hợp nhất với nhau để trở thành những tập đoàn siêu mạnh trên thế giới. Báo cáo IMF WP/03/158: sát nhập, quốc tế hóa, hợp nhất ngân hàng: Xu hướng và dự báo vè những rủi ro tài chính. Xu hướng quốc tế hóa trong họat động ngân hàng toàn cầu ghi nhận quốc tế hóa và sát nhập giữa các ngân hàng.

Sáp nhập (Consolidation)

De Nicolo (2003) đã tổng hợp rằng trong những năm 1990, số tập đoàn tài chính mua lại nhau ở mức độ cao với số thương vụ mua bán phần lớn diễn ra trong ba năm, 1997-1999. Chỉ riêng ở Mỹ, số thương vụ mua bán phần lớn diễn ra trong ngành ngân hàng đạt kỷ lục vào những năm 1998 đến 2000. Nhiều thương vụ hợp nhất ở Mỹ là hợp nhất những chi nhánh họat động hiệu quả của những ngân hàng khác nhau nhằm tạo sức mạnh cho ngân hàng mới.

Theo một điều tra về ngành ngân hàng ở những nước G10, số lượng ngân hàng tuy có giảm song ngành ngân hàng vẫn tăng trưởng với tỷ lệ tiền gửi quốc gia phần lớn nằm trong các ngân hàng lớn nhất. Điều tra này cũng kết luận rằng những động cơ khuyến khích hợp nhất các ngân hàng chính là sự phát triển của công nghệ thông tin, giảm qui địnhchính phủ, xu hướng tòan cầu hóa (cả ngành tài chính và các ngành khác) và áp lực của cổ đông tăng lợi nhuận đầu tư. Trong một nghiên cứu khác của BIS (2001) & IMF (2001) khủng hoảng ngành ngân hàng và tư nhân hóa các ngân hàng quốc doanh cũng là nguyên nhân dẫn đến hợp nhất ngân hàng. Nghiên cứu của Lingren et al (1999) cho thấy ngân hàng của một số quốc gia gặp phải tình trạng khó khăn, thậm chí có ngân hàng phá sản. Do đó, một số Chính phủ cấp thêm vốn cho các ngân hàng yếu kém và một số tổ chức tín dụng yếu kém đã sát nhập với các tổ chức khác.

Một trong những phương pháp chuẩn đánh giá sát nhập ngân hàng là tỷ lệ tập trung tư bản cơ cấu tài sản và tiền gửi của những tổ chức tín dụng lớn nhất được sử dụng để xây dựng tỷ lệ tập trung tư bản. Tỷ lệ tập trung tư bản tăng ghi nhận xu hướng hợp nhất tăng và ngược lại, tỷ lệ tập trung tư bản giảm có thể là kết quả của việc có thêm những ngân hàng mới hoặc sát nhập xảy ra với các ngân hàng nhỏ hơn hoặc cả hai.

Quốc tế hóa (internationalisation)

Quá trình sát nhập ngân hàng không chỉ diễn ra trong biên giới một quốc gia, mà còn diễn ra giữa nhiều nước. Smith & Water (1998) ghi nhận sự tăng trưởng trong các giao dịch mua bán giữa các quốc gia trong những năm 1985-1995, trong đó 15% các giao dịch là những thương vụ ngân hàng các quốc gia phát triển mua lại các tổ chức tài chính ở các quốc gia mới nổi. BIS (2001) cũng nhận thấy xu hướng quốc tế hóa diễn ra ở những thị trường mới nổi, thể hiện ở sự gia tăng về số lượng các ngân hàng nước ngoài tại một số quốc gia đang phát triển. Những động cơ khuyến khích các tập đoàn tài chính mở rộng trên phạm vi quốc tế gồm có cơ hội sinh lợi ở các quốc gia chủ thể, và môi trường pháp lý ở nước nhận đầu tư. Những thương vụ mua bán quốc tế cho thấy ngân hàng nước ngoài thường là những ngân hàng lớn, có lợi nhuận cao, có trụ sở ở những nước phát triển, mua lại cổ phần của những ngân hàng tại nước có tiềm năng phát triển mặc dù tỷ lệ tập trung tư bản của ngành ngân hàng trong nước này còn thấp nên khung pháp lý ngân hàng còn chưa đầy đủ.

De Nicolo (2003) đánh giá xu hướng quốc tế hóa toàn cầu bằng việc phân tích số liệu về ngân hàng sở hữu nước ngoài ở 105 quốc gia. Về cơ bản, xu hướng quốc tế hóa tăng đáng kể trên tất cả các quốc gia tư bản từ 15%-20% vào năm 2000. Nhìn vào từng khu vực, cũng giống như xu hướng sát nhapạ, xu hướng quốc tế hóa cũng phát triển không đồng đều. Các nước Tây Âu ghi nhận mức tăng lớn, 67% tổng giá trị tài sản do ngân hàng sở hữu toàn cầu nắm giữ và tiếp đó là Mỹ, mức tăng 22% phần lớn do sự bành trướng của các ngân hàng châu Âu. Nghiên cứu cũng ghi nhận rằng, hiện tượng quốc tế hóa xảy ra ở những nước có thu nhapạ từ trung bình đến cao, quyết định bởi cơ hội đầu tư hấp dẫn. Quốc tế hóa ngân hàng thực chất ngày càng tăng ở các nước giàu và có chiều hướng giảm ở những quốc gia nghèo. Số liệu cũng ghi nhận rằng xu hướng quốc tế hóa mang tính chất tập trung ở khu vực, chứ không mang tính chất toàn cầu.

Tập hợp (Consortium)

Công nghệ thông tin và việc giảm các qui định quản lý đã là những yếu tố tích cực tạo điều kiện cho xu hướng tập hợp phát triển ngày một mạnh ở các quốc gia công nghiệp hóa. Mặc dù ở những nước đang phát triển, những điều kiện phụ trợ như trên cũng ngày một tích cực, song chưa phải là yếu tố duy nhất quyết định xu hướng tập hợp ở những quốc gia này.

De nicolo (2003) sử dụng số liệu tài chính của 500 tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới về tài sản năm 1995 & 2000 (từ ngân hàng số liệu Worldscope) để đánh giá xu hướng tập hợp trên thế giới, cũng như ở các nền kinh tế mới nổi. Như dự đoán, tỷ lệ tập hợp các tập đoàn ài chính tăng theo qui mô (theo tổng tài sản) của các tổ chức tín dụng. Năm 2000, trong số 50 tổ chức lớn nhất, 92% tổ chức là tập đoàn (chiếm giữ 94% tổng tài sản) trong khi đó trong 500 tổ chức tài chính lớn nhất chỉ có 60% tổ chức là tập đoàn, và đối với nhóm 100&250 tập đoàn tài chính lớn nhất tỷ lệ này cũng tương tự.

Ngoài ra, xu hướng các Chính phủ hủy bỏ những qui định cấm họat động ngân hàng xuyên quốc gia cũng tạo điều kiện cho các ngân hàng kinh doanh thêm dịch vụ ngân hàng phức tạp hơn ngaòi các dịch vụ truyền thống. Các họat động dịch vụ ngân hàng toàn cầu đòi hỏi các ngân hàng phải được họat động trên một phạm vi quốc tế. Chẳng hạn những nghiepẹ vụ ngân hàng hiện đại như e-banking, internet banking. Quá trình tự do hóa trong thương mại ngày càng lớn đã kéo theo sự lưu chuyển vốn quốc tế mạnh mẽ và như vậy sự tự do hóa trong dịch vụ tài chính là không tránh khỏi. Sự tự do hóa trong các họat động dịch vụ tài chính, ngân hàng đã có những tác động mạnh tới thu nhập và tăng trưởng, cải thiện chất lượng và hiệu quả đầu tư, nâng cao sự phân bổ nguồn lực theo ngành, theo thời gian và quốc tế một cách có hiệu quả.

Nghiên cứu của Levine (1996 và 1997) và King và Levine (1993) cho thấy cả các nước đã và đang phát triển có khu vực tài chính, ngân hàng mở cửa đã phát triển nhanh hơn các nước có khu vực này đóng cửa.

Bên cạnh những xu hướng trở thành ngân hàng đa sở hữu (xuất hiện sở hữu xuyên quốc gia và đa quốc gia) và giảm dần vai trò của Nhà nước trong các ngân hàng, xu hướng tích tụ và tập trung tư bản trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng giảm mãnh liệt. Việc hợp nhất, sát nhập và mua lại để hình thành các ngân hàng lớn, những tập đoàn lớn, những ngân hàng xuyên quốc gia, đa quốc gia đã trở thành một xu thế phổ biến trên thế giới. Những ngân hàng được hình thành có quyền lực lớn chi phối không chỉ nền kinh tế của một quốc gia mà còn của nhiều quốc gia.

Quá trình quốc tế hóa trong họat động ngân hàng là do sự tác động của nhiều nguyên nhân như sau:

– Sự thay đổi về môi trường cạnh tranh và môi trường pháp lý làm cho thị trường tài chính có những đặc điểm mới, ảnh hưởng trực tiếp đến họat động của các định chế tài chính, thậm chí đòi hỏi các ngân hàng phải tái cơ cấu lại cho phù hợp;

– Các ngân hàng vấp phải sự cạnh tranh mãnh liệt cả trong thị trường nội địa và quốc tế, nhất là khi công nghệ ngân hàng tiên tiến được sử dụng rộng rãi gia tăng áp lực cạnh tranh; v

– Việc tồn tại quá nhiều ngân hàng trong một quốc gia (chẳng hạn, ở Mỹ có khoảng 6.000 ngân hàng với hàng vạn chi nhánh khắp đất nước, còn ở Đức có 3.500 ngân hàng với 6.500 chi nhánh) đã dẫn đến chênh lệch cung và cầu. Các ngân hàng phải đối mặt với sự suy giảm tỷ suất lợi nhuận ở thị trường trong nước và phải tăng cường sự hiển diện ở thị trường mới.

Cũng chính trong môi trường cạnh tranh quyết liệt và bối cảnh quốc tế như vậy, các ngân hàng phải hoạt động có hiểu quả hơn nữa để có được vị thế cao nhất trong xếp hạng ngân hàng. Kết quả đánh giá xếp hạng ngân hàng phả ánh năng lực cạnh tranh của từng ngân hàng và của hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia. Việc đánh giá và xếp loại ngân hàng được thông qua những tiêu chí, chỉ số mang tính thông lệ quốc tế, chẳng hạn như:

+ Nhóm chỉ số phản ánh năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng như chỉ số về năng lực và chất lượng nguồn nhân lực, chỉ số về năng lực công nghệ ngân hàng, chỉ số về năng lực tài chính, chỉ số về năng lực quản trị điều hành và chỉ số về uy tín và giá trị thương hiệu;

+ Nhóm chỉ số về cơ chế, chính sách xây dựng, phát triển và sử dụng các lợi thế so sánh của tổ chức tín dụng trong quá trình cạnh tranh: chỉ số về hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng hợp lý nguồn lực, chỉ số về hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng hợp lý nguồn lực công nghệ của ngân hàng, chỉ số về hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng hợp lý nguồn lực tài chính của ngân hàng, chỉ số hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng hợp lý mạng lưới tổ chức và chỉ số về hiệu quả của các chính sách phát triển và sử dụng hợp lý giá trị thương hiệu; và

+ Nhóm chỉ số về kết quả thực hiện chiến lược và chính sách cạnh tranh: thị phần tăng thêm hoặc nhịp độ tăng thị phần của ngân hàng trên những thị trường chủ yếu, tăng tủ trọng thu nhập từ các dịch vụ sử dụng công nghệ cao, hoặc từ các sản phẩm dịch vụ mới trên các thị trường mới, và thu nhapạ tăng thêm của ngân hàng từ các giải pháp tăng cường cạnh tranh.

Thông qua hệ thống các chỉ số này, việc đánh giá xếp hạng các ngân hàng được thực hiện. Hiện nay có nhiều hệ thống tiêu chí dùng để xếp hạng các tổ chức tín dụng, tuy nhiên hệ thống tiêu chí được sử dụng là hệ thống xếp hạng theo tiêu chí CAMELS. Các tổ chức tín dụng được xếp hạng theo các tiêu chí về vốn, tổng tài sản, quản lý, lợi nhuận, khả năng thanh khoản và độ thích ứng với thị trường. Thông thường các tổ chức tín dụng được xếp hạng thứ tự từ AAA đến CCC hoặc xếp theo số thứ tự, heo từng tiêu chí. Các tổ chức xếp hạng có uy tín trên thế giới là Moodys và Standards & Poor.
Với xu hướng quốc tế hóa lĩnh vực ngân hàng, khi tham gia hội nhập vào hệ thống ngân hàng thế giới cũng như vào thị trường tài chính tiền tệ quốc tế, các ngân hàng Việt Nam phải là những ngân hàng đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh để có thể được xếp hạng cùng các ngân hàng khác trong khu vực và trên thế giới theo các tiêu chí về vốn, tổng tài sản, quản lý, lợi nhuận, khả năng thanh khoản, và độ thích ứng với thị trường.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • điểm khác nhau giữa ngân hàng và các ngành dịch vụ khác
  • ,