Đặc điểm sản phẩm, quy trình sản xuất và công nghệ ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí

Thứ nhất, sản phẩm xi măng ít chủng loại, quá trình sản xuất có tạo ra các sản phẩm phụ: đây là ngành sản xuất có ít chủng loại sản phẩm, phần lớn các công ty đều có sản phẩm xi măng PCB30, PCB40, MC25, Clinker, số lượng sản xuất lớn nên việc lập định mức chi phí, dự toán chi phí, kiểm soát chi phí, đánh giá chi phí cũng như theo dõi, tập hợp và phân bổ chi phí cho từng đối tượng tính giá thành khá dễ dàng. Đồng thời với quá trình tạo ra sản phẩm chính thì sản phẩm phụ cũng được thu hồi đó là Xỉ hạt lò cao được sử dụng để tiếp tục sản xuất các sản phẩm xây dựng khác như gạch không nung, gạch chèn, vật liệu chịu lửa kiềm tính…

Thứ hai, quy trình sản xuất và công nghệ: quy trình sản xuất xi măng hầu hết ở các công ty đều theo chu trình công nghệ khép kín, chế biến qua nhiều khâu liên tục phức tạp.

Đối với những công ty xi măng có quy trình sản xuất từ khâu khai thác tài nguyên thì chi phí phát sinh từ khâu thăm dò, đánh giá chất lượng, trữ lượng, chi phí nổ mìn, đập nhỏ, bốc xúc, vận chuyển, nghiền vv…sau đó mới đến công đoạn đồng nhất vật tư vào quy trình nung tạo clinker và công đoạn sản xuất xi măng. Còn đối với những công ty không trực tiếp khai thác thì chi phí bắt đầu từ khâu mua nguyên liệu như đá, đất sét, quặng về nung tạo linker hoặc mua linker về làm ở công đoạn sau là sản xuất xi măng.

 Tùy theo công nghệ sản xuất tiên tiến hay lạc hậu ảnh hưởng khá lớn đến chi phí sản xuất. Với những công ty sử dụng dây chuyền lò quay phương pháp khô hiện đại như Công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch, Công ty CP xi măng Phúc Sơn, … sẽ tiết kiệm được nguyên liệu, nhiên liệu, điện năng, công suất cao sản xuất 3 ca liên tục sẽ giảm chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm, chi phí xử lý ô nhiễm môi trường không nhiều, tuy nhiên dây chuyền hiện đại phải đầu tư một lượng vốn rất lớn dẫn đến chi phí khấu hao tăng, chi phí tài chính cao. Với những công ty còn sử dụng công nghệ sản xuất lò đứng lạc hậu như Công ty cổ phần xi măng Trung Hải, Công ty xi măng Duyên Linh,… thì tỷ lệ hao hụt vật liệu cao, điện năng tiêu thụ lớn, sử dụng nhiều lao động trực tiếp, chi phí xử lý ô nhiễm môi trường cao …khó có khả năng tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.

Sự khác biệt giữa công nghệ sản xuất xi măng lò đứng, lò quay phương pháp ướt và lò quay phương pháp khô ảnh hưởng đến KTQTCP, bảng 2.2.

Thứ ba, nguồn nguyên liệu chính để sản xuất xi măng lớn và tập trung: Do kết cấu sinh hóa đặc thù của sản phẩm xi măng là sự kết hợp của bột đá vôi, đá sét và các chất phụ gia nên nguồn nguyên liệu chính này được khai thác ngay tại huyện Kinh Môn nơi các nhà máy xi măng tập trung nhiều nhất. Công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch, Công ty xi măng Phúc Sơn, Công ty CP xi măng Trung Hải, Công ty CP xi măng Phú Tân…đều thành lập các xí nghiệp khai thác trực thuộc chuyên nổ mìn phá đá, khai thác đất sét sau đó đập, nghiền và chuyển về kho nguyên liệu chính. Điều này sẽ giúp các công ty hình thành được các TTTN và TTCP thậm chí có thể tính được giá thành của nguyên liệu, kiểm soát chi phí và đánh giá được hiệu quả hoạt động của các xí nghiệp này. Từ đó tiết kiệm được chi phí nguyên liệu đầu vào, hạ giá thành sản phẩm và hoàn toàn chủ động trong việc sản xuất sản phẩm xi măng hay nửa thành phẩm là Clinker để bán lại cho các công ty sản xuất xi măng nhỏ hơn không có điều kiện khai thác nguyên liệu trực tiếp. Còn đối với các công ty không khai thác trực tiếp nguyên liệu thì chi phí đầu vào sẽ cao do phải mua lại Clinker từ các Công ty xi măng có quy mô lớn.

          Thứ tư, giá trị tài sản cố định đầu tư cho sản xuất xi măng lớn: TSCĐ gồm nhà văn phòng, nhà xưởng, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất …có giá trị rất lớn, vì thế chi phí khấu hao TSCĐ lớn ảnh hưởng đáng kể đến giá thành sản phẩm. Số liệu kế toán năm 2015 của Công ty xi măng Phúc Sơn có nguyên giá TSCĐ hữu hình 4.686,495 tỷ đồng, khấu hao TSCĐ hữu hình trong năm 2015 là 260,918 tỷ đồng. TSCĐ vô hình có nguyên giá 165,248 tỷ đồng, khấu hao trong năm 2015 là 7,212 tỷ đồng.