Đặc điểm sản phẩm, thị trường và kinh doanh bán lẻ điện thoại di động

Nhờ sử dụng kết nối sóng, nên thông tin có thể được trao đổi qua ĐTDĐ ngay cả khi người dùng đang di chuyển. Chất lượng của việc trao đổi thông tin qua ĐTDĐ phụ thuộc vào sóng của nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Trong đó, thiết bị mạng và địa hình nơi thu phát sóng là yếu tố chính quyết định chất lượng sóng của các nhà mạng. Sản phẩm ĐTDĐ có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, ĐTDĐ là một trong những phương tiện thông tin liên lạc. Do đó, trong xã hội thông tin hiện nay, mặt hàng ĐTDĐ đang ngày càng trở thành một trong những mặt hàng chủ yếu đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của người dân. Liên minh viễn thông quốc tế (ITU) đã thống kê [72] số lượng thuê bao di động trên thế giới hiện nay đã đạt mốc gần 7 tỷ, gần tương đương với quy mô dân số toàn cầu.

Thứ hai, ĐTDĐ là sản phẩm công nghệ. Do đó, trong thời đại cách mạng công nghiệp 3.0 và 4.0 hiện nay. Do đó, sản phẩm ĐTDĐ luôn luôn được được mới, nâng cấp và trở thành là một trong những sản phẩm có vòng đời ngày càng ngắn. Cùng với điều đó, giá cả sản phẩm ĐTDĐ luôn có xu hướng giảm nhanh trên thị trường. Vào thời gian phát triển đầu tiên, ĐTDĐ có giá lên đến gần 4.000 USD, kích thước khoảng 10 inch và có trọng lượng hơn 700 gram với thời gian thoại tối đa chỉ là 30 phút. Trong thời kỳ cuối thế kỷ 20, ĐTDĐ được sản xuất chủ yếu phục vụ nhu cầu liên lạc thông qua đàm thoại hoặc tin nhắn. Đến đầu thế kỷ 21, ĐTDĐ đã được bổ sung thêm nhiều tính năng tiện lợi như màn hình cảm ứng, kết nối Internet, tích hợp thư điện tử… Ngày nay, ĐTDĐ đã phát triển thành điện thoại thông minh với vô số các tính năng vượt ra ngoài một phương tiện liên lạc truyền thống khi nó được cải tiến từ định vị GPS, nghe nhạc, chụp hình, quay phim… cho đến nhận diện giọng nói, chữ viết, vân tay.

Thứ ba, ĐTDĐ không chỉ là công cụ liên lạc mà còn trở thành biểu tượng thời trang. Ngoài việc trang bị các tính năng hữu ích, các nhà sản xuất còn đầu tư vào thiết kế của những chiếc ĐTDĐ. Ví dụ như Motorola Razr V3 với thiết kế nắp gập và kích thước siêu mỏng là biểu tượng của ngành công nghệ trong những năm 2000. Ngoài ra, rất nhiều hãng thời trang danh tiếng đã liên kết với các nhà sản xuất ĐTDĐ để cho ra đời các mẫu điện thoại với thiết kế vô cùng ấn tượng như sự kết hợp giữa Samsung và Giorgio Armani hay các bộ sưu tập điện thoại của Christian Dior với những chiếc ĐTDĐ có giá lên tới gần 10.000 USD.

b/ Đặc điểm thị trường ĐTDĐ

Một là, phân khúc thị trường ĐTDĐ tập trung ở nhóm khách hàng có mức thu nhập trung bình:

Do đặc điển sản phẩm nên thị trường ĐTDĐ cũng khá phức tạp và thay đổi từng thời kỳ cùng với sự phát triển của công nghệ. Theo nghiên cứu của Mahmood Awan (2014), thị trường ĐTDĐ được phân thành bốn phân khúc dựa vào giá bán của các sản phẩm, bao gồm:

Giá rẻ: Đây là phân đoạn thị trường dành cho những người có thu nhập thấp như tầng lớp lao động, sinh viên, công nhân… Họ mong muốn một chiếc điện thoại có thể sử dụng ở mức đơn giản nhất với những tính năng hết sức cơ bản như: nghe, gọi, nhắn tin, có thể truy cập internet và giải trí đơn giản nhằm thỏa mãn nhu cầu liên lạc.

Ngày nay, thị trường ĐTDĐ tập trung chủ yếu vào phân khúc giá tầm trung. Số liệu từ GfK về thị trường ĐTDĐ tại Việt Nam cho thấy xu hướng của người tiêu dùng chọn ĐTDĐ có mức giá tầm trung trở lên đang gia tăng đáng kể. Trong khi đó, phân khúc giá rẻ có xu hướng giảm. Lý do chính khiến phân khúc ĐTDĐ giá rẻ đang dần ít khách là vì các chuỗi CHBL đều cung cấp nhiều sản phẩm tín dụng rất hấp dẫn với hàng loạt chương trình cho vay trả góp điện thoại với mức lãi suất 0%.

Hai là, tính cạnh tranh trên thị trường ĐTDĐ ngày càng cao và diễn ra vô cùng quyết liệt.

Các hãng ĐTDĐ liên tục tìm cách đầu tư và đổi mới sản phẩm làm cho vòng đời của ĐTDĐ ngày càng giảm. Cùng với điều đó, trên thị trường bán lẻ, các nhà phân phối buộc phải mở rộng các kênh phân phối để đạt được doanh thu tối đa trên mỗi mã sản phẩm trong thời gian ngắn nhất.

Ba là, doanh thu bán lẻ trên thị trường ĐTDĐ có tốc độ tăng trưởng.

Cùng cới xu hướng thị trường ĐTDĐ tập trung vào phân khúc giá tầm trung, doanh thu bán lẻ đang có sự tăng trưởng rất cao trên thị trường. Ví dụ, riêng thị trường Việt Nam, GfK đã thống kê số lượng ĐTDĐ bán ra trung bình mỗi tháng là gần 2 triệu chiếc. Tốc độ tăng trưởng của thị trường ĐTDĐ tại Việt Nam trong năm 2016 là khoảng 37%, đạt 19,2 triệu chiếc. Trong năm 2016, số lượng các hãng ĐTDĐ tham gia thị trường đã tăng gấp đôi năm 2015.

c/ Sự phát triển đa dạng các loại hình kinh doanh bán lẻ ĐTDĐ

Các loại hình kinh doanh bán lẻ ĐTDĐ trên thị trường hiện nay rất đa dạng. Mỗi mô hình có những chiến lược kinh doanh khác nhau để tối đa hóa lợi nhuận. Trong đó, những loại hình kinh doanh bán lẻ ĐTDĐ đang tồn tại phổ biến trên thị trường, bao gồm:

Loại hình bán lẻ qua cửa hàng nói chung và chuỗi cửa hàng nói riêng

Mô hình này tập trung các hình thức bán lẻ hiện đại phổ biến như cửa hàng độc lập, trung tâm thương mại, cửa hàng chuyên dụng, siêu thị…Địa điểm cố định là lợi thế lớn của loại hình này khi những nhà bán lẻ ĐTDĐ có thể thu hút được một lượng khách lớn vào tham quan và mua sắm. Nhiều loại ĐTDĐ được bày bán và các phương tiện truyền thông được sử dụng để quảng cáo nhờ lợi thế về quy mô và địa điểm.

Đặc biệt, ngày càng có nhiều các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt về từng phân khúc ĐTDĐ xuất hiện để đảm bảo khách hàng có được những tiện ích và trải nghiệm tốt nhất khi mua sắm, đáp ứng đúng những yêu cầu cụ thể của khách hàng. Chiến lược này giúp các cửa hàng độc lập có thể tồn tại trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt với các nhà bán lẻ quy mô lớn. Các cửa hàng này luôn có lượng khách hàng riêng và mức độ gắn kết với khách hàng là tương đối cao. Số lượng nhân viên của những cửa hàng chuyên biệt thường không lớn do quy mô hoạt động nhỏ.

Đồng thời, trên thị trường hiện nay, chuỗi CHBL ĐTDĐ do những ưu thế vượt trội so với các loại hình khác đang có xu hướng phát triển nhanh. Đặc biệt, chỉ có chuỗi cửa hàng bán lẻ mới có thể đáp ứng được sự thay đổi đến chóng mặt về các tính năng, công dụng của các thế hệ ĐTDĐ, nhất là trong thời đại cách mạng 4.0 hiện nay. Bên cạnh đó, chuỗi CHBL ĐTDĐ bảo đảm được tính thống nhất và ổn định trong việc cung cấp các giá trị hay dịch vụ kèm theo cho khách hàng (như: bảo hành, sửa chữa, thay thế, cài đặt các chương trình, v.v…).

– Loại hình bán lẻ không qua cửa hàng

Với việc không có cửa hàng cố định để bày bán hàng, hình thức giao dịch chủ yếu của mô hình này là thông qua tivi, internet, điện thoại… Loại hình này có ưu điểm là không phải nhập và trữ hàng với số lượng lớn vì khách hàng sẽ chỉ cần xem hàng mẫu hoặc ảnh sản phẩm. Khi nào khách hàng có nhu cầu đặt hàng thì nhà bán lẻ mới liên lạc để lấy hàng. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là việc không chủ động kiểm soát được lượng hàng mà phải phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp.

Sau khi khách hàng đặt qua điện thoại hoặc trang web, sản phẩm sẽ được giao tới tay người mua qua đường bưu điện hoặc qua các công ty vận chuyển. Những người sống xa khu vực trung tâm, không có thời gian hoặc gặp khó khăn trong việc di chuyển là những đối tượng khách hàng chính của hình thức bán lẻ này. Tuy nhiên, các nhà bán lẻ lớn thường tích hợp cả hai phương pháp bán hàng qua cửa hàng và không qua cửa hàng để hoạt động kinh doanh đạt được hiệu quả cao nhất.

– Loại hình bán lẻ trực tuyến

Ngành bán lẻ được hưởng lợi rất nhiều từ mạng internet, nó là cầu nối giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng. Đặc biệt, đối với các sản phẩm công nghệ cao như ĐTDĐ, kênh bán hàng trực tuyến là cơ hội lớn để tăng doanh thu bán hàng với chi phí thấp. Chính vì vậy, rất nhiều nhà bán lẻ ĐTDĐ đều vận hành song song kênh bán hàng trực tuyến bên cạnh kênh bán hàng truyền thống.

Trong số các loại hình bán lẻ trên, mỗi loại hình có ưu thế phát triển riêng và có thể trở thành trào lưu phát triển trong từng giai đoạn khác nhau.

Theo học thuyết “Vòng đời cửa hàng” được phát triển bởi giáo sư Marc Dupuis của Đại học Thương mại Paris, một vòng đời của các cửa hàng bán lẻ hay các loại hình bán lẻ bao gồm 4 giai đoạn: hình thành, phát triển, bão hòa và suy thoái. Cũng giống như một sản phẩm, thời gian của mỗi giai đoạn này sẽ khác nhau tùy theo từng thời kỳ và môi trường cụ thể. Ví dụ, sau 40 năm kể từ khi hình thành, các đại siêu thị ở các thị trường phát triển Âu – Mỹ đã đạt đến độ bão hòa. Trong khi đó, mô hình này cùng với các hình thức bán lẻ hiện đại khác như siêu thị và chuỗi cửa hàng bán lẻ lại vẫn đang trong giai đoạn phát triển ở các nước đang phát triển.

Quy luật phát triển và xu thế vận động trong tương lai của các chuỗi cửa hàng bán lẻ cũng sẽ thuận theo lý thuyết này. Tuy nhiên, học thuyết “Vòng đời cửa hàng” [55] vẫn có thể cho thấy xu thế chuỗi CHBL với tập hàng hóa hẹp nhưng sâu đang dần nổi lên với quy mô ngày càng rộng. Các nước châu Mỹ La tinh và châu Á đang bắt đầu hình thành xu hướng này với sự phát triển mạnh mẽ của chuỗi cửa hàng bán lẻ.

d/ Đặc điểm thị trường đô thị lớn có ảnh hưởng đến phát triển kinh doanh chuỗi CHBL ĐTDĐ

Ủy ban Thống kê của Liên hợp quốc (UNSTAT) đã định nghĩa đô thị lớn là khu vực có mật độ công trình kiến trúc và dân cư rất cao. Phần đông dân số lao động sản xuất trong các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đại và không hành nghề nông ngư nghiệp.

Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, Việt Nam có sáu loại hình đô thị bao gồm: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V. Trong đó, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố thuộc đô thị loại đặc biệt. Chính phủ quy định các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại một đơn vị hành chính là đô thị như sau: Có chức năng đô thị; Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên; Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động; Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật); Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.

Dựa trên các qui định này, thị trường đô thị lớn có những đặc điểm khác biệt so với thị trường nông thôn như: mật độ dân số cao, các điều kiện hạ tầng phát triển, tỷ lệ dân số phi nông nghiệp cao, mức thu nhập bình quân đầu người cao, người tiêu dùng có trình độ văn hóa, kỹ thuật cao,…

Những đặc điểm của thị trường đô thị có có sức hút lớn đối với các nhà phân phối và các nhà bán lẻ. Đặc biệt, thị trường đô thị là một trong những khu vực thị trường lý tưởng cho phát triển kinh doanh chuỗi CHBL ĐTDĐ.