Đặc điểm tổ chức, quản lý sản xuất và cơ cấu tổ chức doanh nghiệp

Tổ chức sản xuất trong các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng đang có xu hướng dịch chuyển từ phương thức khép kín sang phương thức chuyên môn hóa. Do vậy, hoạt động sản xuất của DN đóng tàu hiện đại thực chất là lắp ráp các tổng đoạn và lắp đặt các trang thiết bị cho tàu. Đã có những nghiên cứu đánh giá rằng 70% GTGT của con tàu là đến từ các nhà thầu phụ. Đây được xem như là một xu hướng tất yếu cạnh tranh trong chiến lược để giảm chi phí đóng tàu.

Việc chế tạo và lắp ráp các thiết bị phụ trợ phục vụ cho đóng tàu tại các nhà thầu phụ khác nhau một mặt có tác động nâng cao trình độ nhờ sự chuyên môn hóa ngày càng cao, mặt khác làm tăng sự phức tạp cho công tác tổ chức sản xuất và quản lý. Việc lập kế hoạch sản xuất và kết hợp chặt chẽ công việc của các đơn vị khác nhau cũng như việc quản lý, kiểm soát được những công việc đó trong quá trình đóng tàu đòi hỏi những năng lực, kỹ năng và công cụ quản lý mới, ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin. Theo đó, việc quản lý sản xuất cũng dịch chuyển từ quản lý theo chức năng sang quản lý theo sản phẩm. Quản lý sản xuất theo chức năng lấy sản phẩm cuối cùng (con tàu) làm đối tượng quản lý, phương thức này đã không còn phù hợp với xu thế hiện đại. Thay vào đó, quản lý sản xuất theo sản phẩm đã chia sản phẩm cuối cùng (con tàu) thành các sản phẩm trung gian, giao cho bộ phận sản xuất theo chuyên ngành với chi phí sản xuất hiệu quả nhất, có thể được chế tạo tại chỗ hoặc đặt hàng ngoài tùy theo cơ cấu từng công ty đóng tàu.

Đặc điểm cơ cấu tổ chức doanh nghiệp

Trên cơ sở kết quả khảo sát theo tiêu chí “Tổng hợp” được tích hợp từ các tiêu chí: “Quy mô”, “Tính chất sở hữu vốn”, “Nhiệm vụ chính trị”, tác giả chia các DN được khảo sát thành 6 nhóm như sau: DN Nhà nước (quân đội), DN Nhà nước (dân sự), DN có vốn Nhà nước (quy mô lớn), DN có vốn Nhà nước (quy mô vừa), DN vốn tư nhân (quy mô lớn), DN vốn tư nhân (quy mô vừa), bỏ qua các DN quy mô nhỏ vì các DN đó chưa phân tích hiệu quả hoạt động nên chưa thể hoàn thiện. Để rút ra đặc điểm về cơ cấu tổ chức DN, tác giả tiến hành thu thập thông tin từ website DN và các tài liệu liên quan do đơn vị cung cấp. Phụ lục 05 mô tả “Cơ cấu tổ chức của các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng (đại diện)”.

Phụ lục này chưa bao quát được hết các trường hợp, chẳng hạn các DN đóng tàu vốn tư nhân (quy mô lớn hoặc vừa) trên địa bàn thành phố Hải Phòng có thể thuộc loại hình công ty TNHH hoặc Công ty cổ phần, tuy nhiên khi minh họa cho mỗi nhóm DN này, tác giả mới chỉ đưa ra 1 trong 2 trường hợp đó (Công ty cổ phần hoặc công ty TNHH). Mặt khác, ngay cả khi đã bao quát được các trường hợp (như đối với các nhóm DN Nhà nước và DN có vốn Nhà nước) thì cơ cấu tổ chức của 1 DN cụ thể không hoàn toàn đại diện được cho tất cả các DN thuộc nhóm đó, mỗi DN cụ thể có những đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức. Tuy nhiên, qua tìm hiểu tác giả rút ra một số nhận xét chung về vấn đề này như sau: các DN đóng tàu trên địa bàn thành phố Hải Phòng đều không có bộ phận phân tích kinh tế trong cơ cấu tổ chức. Việc phân tích kinh tế nói chung và phân tích hiệu quả hoạt động của DN nói riêng được kiêm nhiệm bởi các cán bộ chức năng liên quan, trong đó chủ yếu là cán bộ kế toán.

Những DN Nhà nước đều là DN quy mô lớn, được tổ chức theo loại hình công ty TNHH MTV, đứng đầu là Chủ tịch công ty, có trường hợp Chủ tịch kiêm Giám đốc (hoặc kiêm Tổng Giám đốc), có trường hợp không kiêm nhiệm thì bên dưới Chủ tịch công ty là Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc), “Tổ chức Đảng, đoàn thể” và “Kiểm soát viên” không thuộc sự quản lý, điều hành của Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) và có tính độc lập tương đối, giúp việc cho Chủ tịch công ty. Dưới Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) là các phó Giám đốc (hoặc phó Tổng Giám đốc), bên dưới ban Giám đốc là các phòng ban và các phân xưởng, tổ đội sản xuất,… Riêng các DN quân đội, mặt chính trị do “Chính ủy” chỉ đạo, Chính ủy có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn độc lập với Chủ tịch và Giám đốc công ty.

Những DN có vốn Nhà nước đều được tổ chức theo loại hình Công ty cổ phần, cơ cấu tổ chức của các DN này phải tuân thủ quy định của pháp luật về Công ty cổ phần, đều có Đại hội đồng cổ đông, tiếp đến là Hội đồng quản trị, tiếp đến là Giám đốc (Tổng Giám đốc), giúp việc cho Giám đốc (Tổng Giám đốc) có các phó Giám đốc (phó Tổng Giám đốc); Ban Kiểm soát hoạt động độc lập và ngang hàng với Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng Giám đốc); các phòng ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất là các bộ phận dưới quyền các phó Giám đốc (phó Tổng Giám đốc), cũng có trường hợp một số bộ phận đặt dưới sự quản lý, điều hành trực tiếp của Giám đốc (Tổng Giám đốc).

Những DN vốn tư nhân được tổ chức theo loại hình Công ty cổ phần hoặc công ty TNHH. Trường hợp DN vốn tư nhân là Công ty cổ phần thì cơ cấu tổ chức về cơ bản cũng tương tự như DN có vốn nhà nước. Những DN vốn tư nhân được tổ chức theo loại hình công ty TNHH có cơ cấu tổ chức tuân thủ quy định của pháp luật về công ty TNHH. Cơ cấu tổ chức của các DN này nhìn chung khá đơn giản, đứng đầu là ban Giám đốc (hoặc ban Tổng Giám đốc), trong đó có cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, bên dưới là các phòng ban, dưới các phòng ban là các phân xưởng sản xuất.

Tùy thuộc và quy mô và đặc điểm cụ thể của đơn vị mà mức độ hoàn thiện về cơ cấu tổ chức ở mỗi đơn vị này có sự khác nhau. Thông thường, khi quy mô DN càng lớn thì cơ cấu tổ chức của DNSX càng được kiện toàn, nên sẽ có nhiều bộ phận chức năng, nhiều đơn vị trực thuộc hơn so với những DN có quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên, cũng không ngoại trừ một số DN quy mô lớn có cơ cấu tổ chức cồng kềnh, kém hiệu quả.

Với những DN ra đời từ khá lâu, cơ cấu tổ chức có những thay đổi trên cơ sở kinh nghiệm tích lũy, nên các bộ phận trong bộ máy quản lý thường khá đầy đủ và có quan hệ cơ hữu, bền chặt, ổn định; song, ở các DN này, đôi khi tư duy bảo thủ và hậu quả của “lịch sử để lại” cũng có thể khiến bộ máy quản lý bị hạn chế. Ngược lại, ở những DN trẻ, bộ máy quản lý thường theo hướng đơn giản, gọn nhẹ theo tư duy mới, phù hợp với xu thế của thời đại; nhưng vấn đề kinh nghiệm cũng khiến cho không ít các DN thuộc diện này tổ chức bộ máy quản lý không hợp lý. Bên cạnh đó, nhiệm vụ chính trị khác nhau chủ yếu dẫn đến sự khác biệt về tổ chức hoạt động chính trị, còn tổ chức hoạt động kinh doanh hầu như không ảnh hưởng; hình thức pháp lý khác nhau cũng dẫn tới những khác biệt về cơ cấu tổ chức theo quy định của pháp luật về mỗi loại hình DN đó; sự khác nhau về năng lực hoạt động cũng chi phối tới việc tổ chức bộ máy quản lý của DN liên quan tới các bộ phận thực hiện những hoạt động tương ứng. Ngoài ra, đặc điểm cơ cấu tổ chức ở các DN này không hoàn toàn giống nhau còn do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác.