Đặc điểm và nguồn gốc của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

1. Đặc điểm chung

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo gắn liền với khả năng chi phối hay kiểm soát giá của những người bán hay người mua riêng biệt. Xét từ phía người bán, trên một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, doanh nghiệp không phải là người chấp nhận giá mà là người định giá, có khả năng chi phối giá, ở những mức độ khác nhau. Tùy theo số lượng doanh nghiệp (do đó, ở một chừng mực nhất định là khả năng chi phối giá cao hay thấp), người ta chia thị trường cạnh tranh không hoàn hảo thành các dạng: thị trường độc quyền thuần túy (thị trường độc quyền của một người), thị trường độc quyền nhóm và thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền.

Đặc điểm chung của các dạng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo khác nhau là:

*                  Đường cầu mà một doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo đối diện là một đường dốc xuống. Điều này xuất phát từ chính định nghĩa về thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: doanh nghiệp trên thị trường này ít, nhiều có khả năng chi phối giá. Do đó, đường cầu đối diện với nó không thể là một đường nằm ngang, như trường hợp doanh nghiệp chấp nhận giá. Đường cầu này cũng không thể là đường dốc lên, vì người tiêu dùng không sẵn lòng trả giá cao hơn chỉ vì sản lượng mà doanh nghiệp cung cấp và bán ra nhiều hơn. Tính dốc xuống của đường cầu mà doanh nghiệp đối diện phản ánh muốn bán được khối lượng hàng lớn hơn, doanh nghiệp phải hạ giá. Khả năng chi phối giá của doanh nghiệp thể hiện ở chỗ: giá cả mà nó có thểđịnh ra đối với các hàng hóa của mình phụ thuộc vào khối lượng mà nó bán ra. Bằng cách chủđộng thay đổi sản lượng, doanh nghiệp có thể tác động đến mức giá của hàng hóa trên thị trường. Với mức sản lượng bán ra thấp (ví dụq1 như trong hình 6.1), doanh nghiệp có thểđịnh giá tương đối cao (mức giá P1). Khi sản lượng cung ứng tương đối cao (q2), doanh nghiệp phải định giá thấp hơn (P2) mới mong bán được hết hàng.

*                  Doanh thu biên mà doanh nghiệp thu được nhờ bán thêm một đơn vị sản lượng nhỏ hơn mức giá tương ứng (MR<P).

Đối với một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, đường cầu đối diện với nó là một đường nằm ngang, do đó, khi doanh nghiệp bán hàng hóa với một khối lượng lớn hơn, nó không phải hạ giá. Doanh thu biên của việc bán thêm một đơn vị sản phẩm trong trường hợp này chính bằng mức giá. Khi ta khẳng định, đường cầu đối diện với một doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo là một đường dốc xuống, chúng ta muốn hàm ý là, để bán được một khối lượng hàng hóa lớn hơn, doanh nghiệp phải hạđơn giá tính cho mỗi đơn vị sản phẩm xuống. Vì thế, khi bán thêm một đơn vị sản phẩm, doanh thu mà doanh nghiệp thu thêm được bằng mức giá của đơn vị cuối cùng mà doanh nghiệp bán ra trừđi phần doanh thu mất đi do doanh nghiệp phải hạ giá bán đối với những đơn vị sản phẩm trước đó. Điều đó cho thấy, doanh thu biên của đơn vị sản phẩm cuối cùng nhỏ hơn mức giá tương ứng. Nếu cần, ta có thể diễn giải điều này rõ ràng hơn như sau:

Theo định nghĩa, ta có MR(q+1) = TR(q+1)TRq, trong đó MR(q+1) là doanh thu biên của đơn vị sản phẩm thứ (q+1), TR(q+1) là tổng doanh thu của khối lượng hàng hóa gồm (q+1) đơn vị sản phẩm, còn TRq là tổng doanh thu của khối lượng hàng hóa gồm q sản phẩm. Gọi Pq+1Pq lần lượt là các mức giá tương ứng với các khối lượng hàng hóa trên, ta có:

TR(q+1) = (q+1). Pq+1TRq = q.Pq. Vì thế, MR(q+1) = q.(Pq+1Pq) + Pq+1. Do Pq+1<Pq nên số hạng thứ nhất trong biểu thức cuối cùng là một số âm. Từđó dễ dàng suy ra    MRq+1<Pq+1 hay tổng quát hơn, MR<P.

*Khi theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo luôn định giá cao hơn chi phí biên của đơn vị sản phẩm cuối cùng (P>MC).

Thật vậy, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải lựa chọn sản lượng sao cho tại đơn vị sản phẩm cuối cùng MR = MC. Tuy nhiên, theo đặc điểm trên, MR < P. Vì thế, P > MC. Ta có thể minh họa điều đó bằng hình 6.2. Theo tính chất doanh thu biên luôn nhỏ hơn mức giá tương ứng ở mỗi mức sản lượng, đường doanh thu biên nằm phía dưới đường cầu mà doanh nghiệp đối diện (đường cầu chính là đường giá cả mà doanh nghiệp có thểđặt ứng với mỗi mức sản lượng). Sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp là q*, tương ứng với giao điểm của đường doanh thu biên MR với đường chi phí biên MC. Mức giá mà doanh nghiệp có thểđịnh là P*, được suy ra từđường cầu ứng với sản lượng q*. Rõ ràng P* lớn hơn MC*, tức chi phí biên của đơn vị sản lượng cuối cùng khi sản lượng là q*.

Khả năng định giá cao hơn chi phí biên của đơn vị sản lượng cuối cùng nói lên quyền lực thị trường của doanh nghiệp. Để lượng hóa, người ta đánh giá quyền lực này bằng chỉ số Lerner (ký hiệu là L): L = (P – MC) / P, trong đó 0 ≤L< 1. Chỉ số Lerner càng cao, quyền lực thị trường của doanh nghiệp càng lớn. Một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là một doanh nghiệp không có quyền lực thị trường, vì thếL = 0.

2. Nguồn gốc

 Như chương trước chúng ta đã nghiên cứu, thị trường cạnh tranh hoàn hảo chỉ xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện nhất định: số lượng doanh nghiệp tham gia lớn, quy mô của mỗi doanh nghiệp nhỏ; sản phẩm của các doanh nghiệp giống hệt nhau, có thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo; những người tham gia thị trường đều có thông tin hoàn hảo; các doanh nghiệp có thể dễ dàng gia nhập ngành cũng như rút lui khỏi ngành. Khi một trong những điều kiện này không được thỏa mãn, thị trường không phải là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Khi đó, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo sẽ xuất hiện. Như thế, nguồn gốc kinh tế của sự xuất hiện các thị trường cạnh tranh không hoàn hảo chính là các yếu tố phá vỡ các điều kiện cần thiết nuôi dưỡng thị trường cạnh tranh hoàn hảo nói trên.

* Lợi thế theo quy mô

Lợi thế theo quy mô phản ánh khoảng sản lượng mà ởđó, quy mô sản lượng càng tăng thì chi phí bình quân dài hạn càng hạ. Tuy nhiên, ở các ngành khác nhau, quy mô sản lượng tối thiểu có hiệu quả cũng khác nhau. Ở những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả tương đối nhỏ so với quy mô chung của thị trường, miền lợi thế theo quy mô của mỗi doanh nghiệp tương đối hẹp. Doanh nghiệp sớm vấp phải miền “bất lợi thế theo quy mô”, tức là khoảng sản lượng mà ởđó, chi phí bình quân dài hạn tăng lên theo chiều hướng tăng của sản lượng. Trong những ngành như vậy, số lượng doanh nghiệp có thể cùng tồn tại khá nhiều. Ngành có thể là một ngành cạnh tranh hoàn hảo. Với những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả tương đối lớn so với quy mô chung của thị trường, đến một lúc nào đó, số lượng doanh nghiệp có thể cùng hoạt động trong ngành tương đối ít. Cạnh tranh trên thị trường sẽ loại bỏ nhiều doanh nghiệp và chỉ cho phép một vài doanh nghiệp sớm đạt được khả năng sản xuất ở quy mô sản lượng có hiệu quả trụ lại. Trong trường hợp này, ngành sẽ trở thành một ngành cạnh tranh không hoàn hảo. Thậm chí, ở những ngành như phân phối điện, sản lượng tối thiểu có hiệu quả thường lớn đến mức nó chỉ cho phép một doanh nghiệp duy nhất hoạt động trong ngành. Trong trường hợp như vậy, ngành trở thành ngành độc quyền thuần túy. Doanh nghiệp độc chiếm được thị trường nhờ lợi thế theo quy mô được gọi là doanh nghiệp độc quyền tự nhiên.

Tóm lại, do tính chất kỹ thuật, ở một số ngành, sản lượng cần tập trung vào một nhóm nhỏ các doanh nghiệp mới đảm bảo được hiệu quả kỹ thuật. Khi ngành chỉ dành chỗ cho một số ít, thậm chí là một doanh nghiệp hoạt động, nó trở thành ngành cạnh tranh không hoàn hảo.

Với những ngành mà quy mô tối thiểu có hiệu quả của các hãng quá nhỏ (ví dụq1 tương ứng với đường chi phí bình quân dài hạn LAC1), số lượng các hãng có thể duy trì được hoạt động của mình tương đối nhiều (tại mức giá hòa vốn P1, sản lượng q1 của từng hãng khá nhỏ so với sản lượng chung Q1 của thị trường). Trong một ngành mà đường chi phí trung bình dài hạn của một hãng là LAC2, số lượng hãng tồn tại dài hạn được trong ngành không nhiều. Còn khi LAC3 mới là chi phí trung bình dài hạn của một hãng, với đường cầu thị trường vẫn là D, về dài hạn ngành chỉ cho phép tồn tại một doanh nghiệp.

*   Tính khác biệt của sản phẩm

Chúng ta đã biết, khi sản phẩm của các doanh nghiệp cùng hoạt động trong cùng một ngành khác biệt nhau, chúng không thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo (ví dụ, những người đã quen sử dụng dầu gội đầu nhãn hiệu “Sunsilk” không coi các loại dầu gội đầu khác là những vật có thể thay thế nó một cách hoàn hảo). Trong trường hợp này, một doanh nghiệp có thể tăng giá sản phẩm của mình trong một khoảng nhất định mà không bị mất đi những khách hàng quen. Nói cách khác, khi sản phẩm của mỗi doanh nghiệp đều khác biệt với sản phẩm của các đối thủ, mỗi doanh nghiệp riêng biệt dường như có một phân đoạn thị trường riêng. Thị trường chung bị chia cắt thành nhiều thị trường nhỏ. Trên mỗi “khúc” thị trường này, doanh nghiệp là người duy nhất cung ứng hàng hóa. Vì thế nó ít nhiều có khả năng chi phối giá. Thị trường như vậy sẽ là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.

*   Những nguyên nhân có tính chất pháp lý ngăn cản cạnh tranh

Lợi thế quy mô lớn có thể tạo ra rào cản đối với việc gia nhập ngành của các doanh nghiệp mới. Việc các doanh nghiệp hiện hành trong ngành có khả năng sản xuất ở quy mô sản lượng có hiệu quả và quy mô này khá lớn so với quy mô chung của thị trường sẽ khiến cho các doanh nghiệp mới khó thâm nhập vào ngành. Trong trường hợp này, sự tự do xuất, nhập ngành không tồn tại.

Rào cản đối với việc tham gia vào ngành có thể bắt nguồn từ những ngăn trở có tính chất pháp lý do quy định pháp luật hay chính sách của Nhà nước. Có thể kể ra đây một số trường hợp điển hình.

+ Việc cấp giấy phép kinh doanh hạn chế.

Vì những lý do khác nhau, trong một số lĩnh vực, Nhà nước có thể chỉ cấp giấy phép kinh doanh cho một số ít doanh nghiệp. Ví dụ, ở Việt Nam chỉ có một số rất ít doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh những mặt hàng như vũ khí, thuốc chữa bệnh, dịch vụđiện thoại… Trong trường hợp này, do số lượng doanh nghiệp tham gia hạn chế, thị trường sẽ không thể là thị trường cạnh tranh hoàn hảo.

+ Luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Trong nền kinh tế thị trường, các phát minh, sáng chế là một loại hàng hóa đặc biệt. Nhờ các phát minh, sáng chế mà con người tạo ra những tiến bộ không ngừng trong công nghệ và kỹ thuật sản xuất. Nhiều sản phẩm mới, với những tính năng ngày càng ưu việt ra đời; năng suất lao động của xã hội ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, để có những phát minh, sáng chế, người ta phải đầu tư nhiều công sức, tiền bạc, thời gian… với một độ rủi ro rất cao. Một phát minh mới ra đời, có khả năng ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, có thể không đem lại lợi ích kinh tếđáng kể nào cho người tìm ra nó nếu những người khác có cơ hội sao chép, bắt chước và khai thác nó một cách dễ dàng. Trong trường hợp này, động cơđể từng cá nhân, doanh nghiệp đầu tư cho các phát minh, sáng chế bị suy yếu nghiêm trọng. Để khắc phục điều đó, việc bảo hộ các phát minh, sáng chế cũng như những sản phẩm trí tuệ khác được coi là một trong những giải pháp quan trọng. Với các luật về quyền sở hữu trí tuệ, những người nắm giữ các phát minh, sáng chế… được nhà nước bảo hộđộc quyền khai thác chúng trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là một rào cản pháp lý đểđộc quyền (dù chỉ trong một số năm nhất định) sản xuất trong một số lĩnh vực được thiết lập.

Việc bảo hộ các phát minh, sáng chế… luôn là sự bảo hộ có thời hạn. Tính thời hạn ởđây liên quan đến sự cân nhắc của nhà nước trong việc bảo đảm sự hài hòa về lợi ích xã hội giữa việc khuyến khích tạo ra các phát minh, sáng chế với việc phổ biến rộng rãi chúng trong đời sống sản xuất xã hội.

+ Chính sách ngoại thương của Nhà nước.

Để bảo hộ một số ngành công nghiệp trong nước, Nhà nước có thểđánh thuế cao hoặc thiết lập những hàng rào phi thuế quan nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của hàng ngoại vào thị trường trong nước. Nếu trong ngành công nghiệp được bảo hộ, chỉ có một nhóm nhỏ doanh nghiệp trong nước đang kinh doanh, thì việc ngăn chặn thành công sự tham gia cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài có thể khiến cho ngành trở thành ngành cạnh tranh không hoàn hảo. Tuy nhiên, hiện nay cùng với tiến trình tự do hóa thương mại, việc tháo dỡ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu đã và đang trở thành những cam kết quốc tế mà hầu hết các nước chấp nhận thực hiện trong lĩnh vực thương mại.

+ Sở hữu tư nhân về một loại đầu vào đặc biệt khan hiếm

Một người sở hữu một mỏ khoáng sản quý hiếm, một mảnh đất duy nhất có khả năng trồng một loại cây đặc sản, một kỹ năng lao động đặc biệt để có thể chế tạo ra một loại hàng hóa (hay dịch vụ) độc đáo có thể trở thành người sản xuất độc quyền trên thị trường đầu ra nhờ sử dụng các đầu vào đặc biệt khan hiếm này. Việc thiết lập quyền sở hữu tư nhân về một loại đầu vào như vậy cũng có giá trị như một rào cản pháp lý đối với sự gia nhập ngành của những người sản xuất  khác.

Ngoài những rào cản nói trên, những ngăn trở không chính thức đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm năng (có thể là phi pháp) cũng làm cho thị trường không thể trở thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Ví dụ, những thỏa thuận không chính thức giữa một bên là một nhóm nhỏ các doanh nghiệp đang hoạt động và một bên là các nhà cung cấp một sốđầu vào thiết yếu có thể khiến cho các đối thủ cạnh tranh tiềm năng không thể tiếp cận được các yếu tốđầu vào này. Trong trường hợp như vậy, sự tự do gia nhập ngành của các doanh nghiệp mới sẽ bị loại trừ.