Đặc điểm vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với GNBV vùng miền núi

Vai trò của CQCT đối với GNBV vùng miền núi cũng có những đặc điểm của    vai trò của CQCT đối với GNBV nói chung. Đó là:

Thứ nhất, đặc trưng cơ bản của vai trò CQCT đối với GNBV là trực tiếp thực hiện và là trung tâm điều phối trên tất cả các mặt tại địa phương về GNBV.

Vai trò này xuất phát từ chức năng quản lý, thực hiện, và điều hành về  mọi  phương diện đời sống xã hội, đồng  thời có sự gắn  kết chặt chẽ, trực tiếp đến những  vấn đề thuộc quyền lợi, nghĩa vụ của các công dân, các tổ chức hay những nhóm khác trong xã hội trên địa bàn quản lý. Vai trò này của CQCT luôn giữ vị trí quan trọng,  đóng vai trò chủ chốt trong hoạt động của hệ thống chính quyền địa phương. Do đó, là trung tâm điều phối trên tất cả các lĩnh vực liên quan đến GNBV tại địa phương.

Thứ hai, CQCT giữ trọng trách trong xây dựng, triển khai những chính sách với biện pháp thực hiện phù hợp với thực tế tại địa phương, nhằm phát huy lợi thế so sánh của địa phương, đồng thời khắc phục và làm giảm mức độ của những hạn chế, bất cập của địa phương. GNBV trên địa bàn tỉnh là minh chứng mạnh mẽ nhất cho hiệu quả cũng như hiệu lực trong hoạt động quản lý của CQCT đối với GN.

Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường, vai trò của CQCT về GNBV được thể hiện ở hai nội dung chủ yếu sau:

Một là, CQCT là cấp quan trọng nhất của chính quyền địa phương về việc thực hiện, triển khai hệ thống các chính sách, sử dụng cơ chế và thực thi pháp luật của Nhà nước về GNBV. Cụ thể, vai trò này được thể hiện một số nội dung sau:: (i) CQCT xây dựng môi trường, thực hiện minh bạch đến các chủ thể khác trong xã hội trên cơ sở chính sách, pháp luật của Nhà nước và các điều kiện, môi trường hoàn cảnh cụ thể của địa phương đối với GNBV trên địa bàn tỉnh; (ii) xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch, giải pháp GNBV trên địa bàn tỉnh; (iii) đảm bảo huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả để thực hiện GNBV trên địa bàn tỉnh;

Hai là, CQCT là cấp đóng vai trò quan trọng nhất trong khắc phục khuyết tật của kinh tế thị trường về phân hóa giàu nghèo tại địa phương, tức thực hiện công bằng xã hội trên địa bàn tỉnh. Qua đó, thực hiện GNBV.

Tuy nhiên, vai trò của CQCT đối với GNBV vùng miền núi cũng có những đặc điểm riêng. Đó là:

Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên, KT-XH vùng miền núi khó khăn, các nguồn lực rất hạn chế, không thuận lợi cho phát triển. Điều này dẫn đến GNBV  rất khó khăn.  Hiểu được đặc điểm đó, CQCT xây dựng chiến lược, kế hoạch, ban hành các chính   sách về GNBV phải phù hợp với điều kiện đó ở miền núi.

Thứ hai, do hiệu lực của chính quyền cấp cơ sở vùng miền núi còn nhiều hạn chế. Trong đó, yếu nhất là khả năng lập kế hoạch, tính năng động, sáng tạo trong phương pháp, cách làm. Cùng với đó là dân trí vùng miền núi thấp hơn các vùng khác, nên chiến lược, kế hoạch, các chính sách về GNBV phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. CQCT giao nhiệm vụ cụ thể đến từng cấp chính quyền và có định kỳ hàng tháng hoặc quý kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo trực tiếp chính quyền cấp cơ sở việc thực hiện GN vùng miền núi.

Thứ ba, trong chỉ đạo công tác GN vùng miền núi vừa phải hướng tới giúp các    hộ nghèo cụ thể, vừa lồng ghép triển khai nhiều chương  trình và nguồn lực để phát  triển được các dự án phát triển nông, lâm nghiệp để giúp người dân thoát nghèo nhanh, nhiều, bền vững. Tuy nhiên, đây là vấn đề không dễ làm và ngoài khả năng của chính quyền cấp cơ sở vùng miền núi. Do đó, để thực hiện tốt GNBV vùng miền núi vai trò của CQCT hết sức quan trọng, thậm chí có tính quyết định.