Đặc điểm về cơ chế tài chính và tổ chức công tác kế toán trong DN Lâm nghiệp

Đặc điểm về cơ chế tài chính.

Về cơ chế tài chính trong các CTLN được bao gồm hai mô hình: Mô hình thứ nhất là các CTLN độc lập không thuộc Tổng công ty nào, các công ty này tiền thân là các lâm trường trước đây sau khi chuyển đổi thành các CTLN thì các công ty này độc lập về tài chính, vốn và hoat động theo mô hình công ty nhà nước,100% vốn của nhà nước và được gọi là công ty TNHH một thành viên. Các công ty này chịu sự quản lý của UBND Tỉnh.

Mô hình thứ hai là các CTLN trực thuộc Tổng công ty, bao gồm Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor) và Tổng công ty giấy Việt Nam.

Đối với TCT Lâm nghiệp Việt Nam được bao gồm hai loại hình DN bao gồm: (1) Công ty cổ phần được TCT lâm nghiệp góp cổ phần chi phối tại các CTLN này. Tuy nhiên những công ty cổ phần này là các công ty kinh doanh trên các kĩnh vực chế biến gỗ, kinh doanh dịch vụ lâm nghiệp và không có đất rừng. (2) Các CTLN này được tổ chức theo dạng Công ty TNHHMTV lâm nghiệp hoặc dạng Chi nhánh tổng công ty Lâm nghiệp – Công ty lâm nghiệp, các CTLN này duy trì mô hình DN Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện sản xuất kinh doanh.  Các công ty TNHH một thành viên nhận 100% vốn từ Tổng công ty và chịu sự chỉ đạo điều hành của Tổng công ty.

Với các CTLN trực thuộc các Tổng công ty giấy Việt Nam, thì mối quan hệ giữa các CTLN với Tổng công ty là quan hệ công ty mẹ – Công ty con. Trong đó Tổng công ty góp vốn 100% vào các công ty con. Hiện nay các CTLN trực thuộc Tổng công ty mà được giao quản lý đất rừng chưa thực hiện cổ phần hóa do vẫn còn vướng mắc trong khâu định giá đất rừng.

Các CTLN trực thuộc Tổng công ty, là các công ty con của Tổng công ty. Tổng công ty là đơn vị bao tiêu sản phẩm cho các CTLN. Do vậy mối quan hệ giữa Tổng công ty với các CTLN vừa là mối quan hệ Công ty mẹ – Công ty con; vừa là mối quan hệ người bán – khách hàng, vừa bao gồm cả quan hệ người đi vay – chủ nợ. Điều này dẫn đến trong quá trình hạch toán bán hàng và tiêu thụ, khoản phải thu về tiền gỗ nguyên liệu bán cho Tổng công ty được hạch toán vào TK phải thu nội bộ và doanh thu tiêu thụ. Ngoài ra khoản tiền vay của Tổng công ty cũng được ghi nhận vào các TK phải trả nội bộ. Điều này quy định một số báo cáo đặc thù riêng của Tổng công ty. VD: báo cáo công nợ phải thu nội bộ, Báo cáo sản lượng tiêu thụ nội bộ….

Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý các CTLN

Hầu hết các CTLN là DN nhà nước hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên. Qua khảo sát 38 CTLN thì có 1 công ty lâm nghiệp trực thuộc Tổng công ty lâm nghiệp nhận 100% vốn góp từ Tổng công ty lâm nghiệp và 8 Công ty TNHH một thành viên trực thuộc Tổng công ty giấy và còn lại các CTLN trực thuộc UBND Tỉnh. Điều này là do đặc thù các CTLN vẫn thuộc sở hữu nhà nước và chưa được thực hiện cổ phần hóa do tài sản chủ yếu là đất rừng thuộc sở hữu nhà nước.

Qua khảo sát 38 CTLN thì tổ chức bộ máy quản lý của các CTLN được thực hiện theo hai mô hình: 29 Công ty TNHH MTV là các công ty trực thuộc UBND tỉnh quản lý và các 9 CTLN là Chi nhánh Tổng công ty – Công ty lâm nghiệp.

Với CTLN là Công ty TNHH MTV được tổ chức theo môn hình trực tuyến chức năng. Đứng đầu từ hội đồng thành viên, ban giám đốc,  bộ phận tham mưu giúp việc bao gồm các phòng ban như phòng hành chính, phòng KTTC, phòng kinh doanh, phòng tổ chức…. Bộ phận trực tiếp bao gồm các đội sản xuất, các phân xưởng chế biến…

Điển hình tổ chức theo mô hình này là sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty TNHH MTV LN Đông Triều như sau (hình 2.1):

  • Các phòng chức năng (03 phòng)

+ Phòng Tổ chức – Hành chính

+ Phòng Tài chính – Kế toán

+ Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật

  • Các đơn vị sản xuất trực thuộc (Các đội sản xuất, Đội vườn ươm và 1 xưởng chế biến lâm sản)
  1. Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận

Mô hình tổ chức bộ máy quản lý kiểu trực tuyến chức năng, tập thể lãnh đạo cấp dưới chịu sự quản lý của cấp trên theo chế độ một thủ trưởng.

* Ban giám đốc: Gồm có giám đốc và Phó giám đốc

+ Giám đốc: Là người điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty, và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyền và nghĩa vụ được giao.

+ Phó giám đốc: Là người giúp việc cho giám đốc, chịu trách nhiệm chỉ đạo kế hoạch chung cho toàn bộ công ty.

* Phòng Tổ chức Hành chính: Tham mưu giúp giám đốc Công ty về công tác tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, tổ chức cán bộ, công tác lao động tiền lương, thi hành đúng đắn các chế độ chính sách Nhà nước đã ban hành với người lao động, chỉ đạo thực hiện chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, định mức lao động trong toàn Công ty, chỉ đạo công tác an toàn vệ sinh lao động, công tác thi đua khen thưởng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ và quản lý hồ sơ cán bộ công nhân viên chức, quản lý hợp đồng lao động.

* Phòng Tài chính Kế toán:

Tham mưu giúp việc Giám đốc Công ty về công tác kế toán và tài chính, thống kê, quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, thu chi tài chính, về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Thực hiện pháp Luật Kế toán thống kê và các chính sách quy định của Đảng – Nhà nước.

* Phòng Kế hoạch Kỹ thuật: Tham mưu giúp Giám đốc Công ty về công tác kế hoạch, công tác vật tư kỹ thuật. Bắt đầu xây dựng kế hoạch dài hạn, kế hoạch năm, quý, tháng.Tổng hợp, hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện nhằm hoàn thành toàn diện và vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Hướng dẫn, chỉ đạo kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ cho đến khi rừng thành thục công nghệ, chỉ đạo kỹ thuật khai thác rừng, kỹ thuật sử dụng các công cụ, thiết bị an toàn lao động, quản lý giống cây Lâm nghiệp. Tổ chức thực hiện các vấn đề liên quan đến quản lý bảo vệ rừng.Tham mưu giúp Giám đốc trong công việc ký hợp đồng sản xuất tiêu thụ sản phẩm.

– Các đội sản xuất: có nhiệm vụ quản lý lao động thuộc đội. Phân công công việc, giao khoán đến từng hộ theo kế hoạch sản xuất hàng năm. Đôn đốc tiến độ, giám sát quy trình kỹ thuật, thời vụ. Đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất hàng năm đúng thời gian, đủ số lượng, chất lượng. Quản lý đất đai, tài nguyên rừng được giao trong phạm vi mỗi đội. Đảm bảo không để đất trống, đất bị tranh chấp, xâm lấn. Không để xảy ra mất rừng, cháy rừng và những nguyên nhân khác, gây thiệt hại tới tài nguyên rừng và một số nhiệm vụ khác liên quan tới tài nguyên rừng, tài sản, đời sống của công nhân viên, an ninh trật tự trong phạm vi quản lý.

Đội vườn ươm: Nhiệm vụ cung cấp cây giống theo kế hoạch trồng rừng cho các đội sản xuất.

Xưởng chế biến: Nhiệm vụ tổ chức khai thác, vận chuyển và chế biến gỗ.

Đối với các CTLN trực thuộc Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam được tổ chức theo mô hình chi nhánh Tổng công ty với số vốn đầu tư 100% từ Tổng công ty như Chi nhánh của Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam –  Công ty cổ phần – Công ty cổ phần Hòa Bình.

Tổ chức bộ máy quản lý của công ty

Qua hình 2.2 cho chúng ta thấy các mối quan hệ giữa các đơn vị và các phòng ban chức năng với ban lãnh đạo Công ty:

  • Chủ tịch Công ty

Chủ tịch Công ty do Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam bổ nhiệm để thực hiện quyền và nghĩa vụ của Tổng Công ty, có quyền nhân danh Công ty thực hiện quyền và nghĩa vụ của Công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Tổng Công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo quy định của điều lệ Công ty, và pháp luật hiện hành.

  • Kiểm soát viên

Kiểm soát viên được Tổng Công ty bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm.

Kiểm soát viên có quyền xem xét bất cứ hồ sơ, tài liệu nào của công ty, của người đại diện quản lý vốn của công ty tại trụ sở công ty và các đơn vị thành viên

Kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và Tổng Công ty về thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình.

Thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh và báo cáo khác, trên cơ sở đó nhằm cảnh báo, ngăn chặn việc sử dụng vốn và tài sản sai mục đích, sai chế độ tại công ty và báo cáo lên Tổng Công ty hoặc cơ quan Nhà nước có liên quan.

  • Ban giám đốc

Ban giám đốc Công ty là người đại diện trước pháp luật và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Công ty và chủ sở hữu công ty trong việc điều hành hoạt động của Công ty.

Trường hợp cần có sự thống nhất cao trong lãnh đạo Công ty, ban giám đốc sẽ tổ chức thảo luận tập thể ban lãnh đạo Công ty trước khi đưa ra quyết định, các nội dung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát sinh của Công ty, các chương trình, dự án trọng điểm v.v… để trình Chủ tịch công ty phê duyệt.

  • Các phòng ban chức năng

+ Phòng tổ chức hành chính: có chức năng tham mưu giúp việc cho giám đốc về công tác tổ chức hành chính của Công ty. Nhiệm vụ của phòng tổ chức hành chính là đề xuất và sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất, quản lý theo dõi thực hiện công tác lao động tiền lương, công tác nhân sự, quản lý hồ sơ và theo dõi công tác thi đua, thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động.

+ Phòng kế toán tài chính: có chức năng tham mưu cho giám đốc về công tác kế toán tài chính. Xây dựng và chỉ đạo kế hoạch kế toán, thực hiện chế độ báo cáo tài chính theo đúng quy định của Nhà nước, thẩm định quyết toán của các đơn vị trực thuộc, lập và trình duyệt quyết toán của Công ty.

+ Phòng Lâm nghiệp tổng hợp: có chức năng tham mưu giúp cho Giám đốc về công tác khoa học kỹ thuật trong sản xuất lâm nghiệp, công tác quản lý bảo vệ rừng. Phòng có nhiệm vụ xây dựng và chỉ đạo kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, xây dựng các quy trình chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, theo dõi chất lượng các loại rừng, tham mưu và tổ chức tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng trong Công ty.

+ Phòng kinh doanh: có chức năng tham mưu giúp việc cho Giám đốc về công tác kế hoạch kinh doanh, chỉ đạo các đơn vị thực hiện các hợp đồng đã ký. Xây dựng phương án khoán của Công ty về sản phẩm từ rừng, lập kế hoạch và tổ chức thu mua sản phẩm tiêu thụ từ gỗ rừng, đảm bảo thu hồi vốn và có lợi nhuận.

+ Các lâm trường, xí nghiệp trực thuộc Công ty: thực hiện theo chức năng và nhiệm vụ của Ban Giám đốc giao cho như: tổ chức trồng rừng, chế biến lâm sản, xây dựng mô hình thâm canh trồng rừng, ứng dụng các đề tài khoa học tiên tiến để cải tạo giống, góp phần nâng cao hiệu quả rừng trồng và khai thác rừng.

Các chế độ kế toán áp dụng tại các CTLN hiện nay.

Các CTLN hoạt động theo luật DN và tuân thủ theo luật pháp Việt Nam. Do vậy, các CTLN thực hệ công tác kế toán theo chế độ kế toán chung với các DN hoạt động theo luật DN.

Trên cơ sở kết quả khảo sát (Phụ lục 03, 04) tại 38 CTLN thuộc mẫu khảo sát, tác giả luận án thống kê được các CTLN áp dụng chính sách, chế độ kế toán với các thông tin như sau:

  • Niên độ kế toán: các DN đều thực hiện niên độ kế toán theo năm dương lịch (bắt đầu từ 01 tháng 1 đến 31 tháng 12 hàng năm).
  • Đơn vị tiền tệ sử dụng: đồng Việt Nam.
  • Hình thức kế toán: sử dung phần mềm kế toán với các hình thức kế toán theo quy định của chế độ kế toán;
  • Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: kê khai thường xuyên;
  • Phương pháp tính giá vật tư xuất kho: bình quân gia quyền;
  • Phương pháp khấu hao TSCĐ: phương pháp đường thẳng;
  • Phương pháp tính và nộp thuế GTGT: phương pháp khấu trừ;

Các CTLN đều là DN nhà nước hoặc công ty TNHH MTV 100% vốn nhà nước, hoặc công ty cổ phần nhận vốn góp từ Tổng công ty nên 100% các CTLN áp dụng chế độ kế toán theo TT 200/TT-BTC ra ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính.

Tuy nhiên, tùy vào từng đặc thù của DN mà mỗi DN sẽ có tổ chức hệ thống sổ, hệ thống chứng từ kế toán và hệ thống tài khoản kế toán riêng phù hợp với đặc điểm của DN mình. Tất cả các CTLN là các DN nhà nước do vậy các công ty này áp dung theo TT200. Với các công ty lâm nghiệp thuộc Tổng công ty Giấy thì sử dụng phầm mềm kế toán với hình thức ghi sổ là Chứng từ ghi sổ. Với một số CTLN thuộc Tổng CTLN Việt Nam, thì sử dụng hình thức kế toán Nhật ký chung.

Hình thức kế toán sử dụng tại các CTLN theo các hình thức như: Nhật ký chung với 25 công ty như: CTLN Hòa Bình, CTLN Cẩm Phả…, Chứng từ ghi sổ có 12 công ty sử dụng, Nhật ký sổ cái có 1 công ty sử dụng.

Về phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Tất cả các DN đều sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên.

Phương pháp khấu hao hầu hết các Công ty đều sử dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng.