Đánh giá chung về sự phát triển làng nghề truyền thống ở tỉnh Hà Nam

1. Những thành công đã đạt được và kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển các ngành nghề, ngành nghề ở tỉnh Hà Nam

Từ sự phân tích hình hình phát triển ngành nghề ở nông thôn Hà Nam trong những năm qua ta thấy. Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở Hà Nam phát triển tương đối ổn định, năm sau cao hơn năm trước trong một khoảng thời gian dài. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của các cấp các ngành, các hoạt động sản xuất ngành nghề truyền thống  được khuyến khích phát triển mạnh mẽ.

Làng nghề tồn tại và phát triển đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là nâng cao thu nhập của người nông dân. Những chỉ tiêu kinh tế xã hội mà các làng nghề đã đạt được, khẳng định vai trò to lớn của làng nghề trong việc đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tiến lên thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Số lao động ngành nghề nói chung, ở trong các làng nghề nói riêng không ngừng tăng lên. Các ngành nghề ở nông thôn Hà Nam đã góp phần huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để đầu tư sản xuất. Chúng khai thác tốt các nguồn lực sẵn có ở địa phương, để tạo thành những sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường.

Đạt được những kết quả trên là do các yếu tố sau.

– Cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp đã quán triệt sâu sắc, nhận thức rõ vai trò, vị trí phát triển nghề và làng nghề trong mối quan hệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nên đã tích cực xây dựng các chương trình, các dự án phát triển sản xuất, huy động mọi tiềm lực, tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển.

– Vốn đầu tư cho cho một chỗ làm việc trong các làng nghề thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp lại tận dụng được cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của địa phương và mỗi gia đìmh. Sự liên kết, hợp tác sản xuất, tiêu thụ  giữa doanh nghiệp và các hộ trong các làng nghề được tăng cường, có tác động tích cực tới tìm kiếm thị trường, kể cả xuất khẩu.

– Sức ép ngày càng tăng của việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho dân cư, tình trạng mất đất canh tác trong khi dân số  ngày càng tăng chính là động lực bên trong quan trọng nhất, thôi thúc người lao động và gia đình họ tìm kiếm việc làm, thậm chí họ chấp nhận mức tiền công rất thấp chỉ 4000-5000 đ/ngày

– Đạt được kết quả đó phải kể đến sự mạnh dạn đầu tư dám nghĩ, dám làm năng động bươn trải tìm kiếm thị trường của một số gia đình cũng như cơ sở làm nghề. Chính họ là người có đóng góp lớn vào việc khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống ở mỗi địa phương

– Ngoài ra sự phát triển của làng nghề trong những năm qua còn do tốc độ phát triển chung của toàn nền kinh tế tác động lên, thị trường trong nước được mở rộng, cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, thuận tiện cho vận chuyển nguyên liệu, giao lưu buôn bán trong tỉnh và toàn quốc.

2. Những khó khăn và vướng mắc chủ yếu

Bên cạnh những thành tựu mà các làng nghề đã đạt được, hoạt động của các làng nghề trong những năm qua còn gặp không ít khó khăn, yếu kém. Mặc dù có tốc độ phát triển khá, song thiếu sự ổn định, thiếu cơ sở vững chắc – thị trường trong nước còn nhỏ bé, thị trường quốc tế bị cạnh tranh mạnh mẽ một phần do sản phẩm của ta chưa thật sự đặc sắc, còn đơn điệu,hơn nữa khả năng tiếp thị, giới thiệu sản phẩm của mình với khách hàng còn kém. Nhiều làng nghề phần lớn sản phẩm đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ, làm cho sản xuất bị đình trệ cầm chừng. Do số đông dân làng nghề làm ăn tự phát nên chưa nắm bắt nhanh được thị trường, còn hạn chế về dự báo cung- cầu vì vậy ít làng nghề, hộ sản xuất có phương pháp điều tiết mẫu mã, chất lượng, số lượng sản phẩm một cách nhanh chóng theo thay đổi của thị trường. Trong các làng nghề chưa hình thành được sản phẩm mũi nhọn có tính ổn định, giá trị cao chiếm lĩnh được thị trường.  Sự phát triển mạnh của các doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH có nhiều mặt tốt song còn có tình trạng chèn ép gây thiệt hại cho các hộ gia đình sản xuất nghề. Hơn nữa trong tỉnh chưa có sự đồng bộ trong quản lý đối với ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nói chung và ngành nghề truyền thống nói riêng. Suốt một thời gian dài gần như không có một cơ quan quản lý và có trách nhiệm với các làng nghề thủ công, vốn đầu tư của Nhà nước chưa nhiều. Có thể nói, từ sản xuất đến tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đều do các doanh nghiệp, tư nhân, cá thể, hoặc hộ gia đình tự lo liệu, xoay xở. Do vậy, diễn ra tình trạng khá phổ biến là cùng một mặt hàng hoặc sản phẩm nhưng làng nghề nào có được hợp đồng hoặc thị trường tiêu thụ sản phẩm thì nơi đó phát triển được và ngược lại.

Một số làng nghề trong quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, do công nghệ lạc hậu, hầu hết chưa có thiết bị xử lý chất thải lại sản xuất xen kẽ với dân cư.

Những tồn tại  trên là do các nguyên nhân sau:

-Chúng ta có thể thấy rằng cả nước hiện nay đã có hàng trăm Viện nghiên cứu khoa học nhưng chưa có một Viện  chuyên nghiên cứu nghề thủ công mỹ nghệ, chưa có một trường dạy thủ công mỹ nghệ, đào tạo hoặc nghiên cứu kinh tế, kỹ thuật phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh sản phẩm thủ công mỹ nghệ, tương xứng với vị trí, vai trò và tiềm năng to lớn của chúng trong nền kinh tế quốc dân. Có thể nói, các nghề thủ công và các làng nghề vẫn gần như nằm ngoài sự quan tâm của các chương trình khoa học và công nghệ.

-Phần lớn các hộ ở nông thôn Hà Nam vẫn coi làm nghề tiểu thủ công nghiệp là một nghề phụ mặc dù có nghề mang lại thu nhập chính cho kinh tế gia đình. Quy mô sản xuất nhỏ vốn đầu tư thấp nên việc cải tiến công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp cận thị trường còn hạn chế.

-Một thực tế ở các làng nghề hiện nay là mặc dù thiếu vốn song họ không giám mạnh dạn vay vốn của các tổ chức tín dụng, nguyên nhân chính của vấn đề này là do người sản xuất chưa tìm được phương án sản xuất kinh doanh khả thi và có lợi nhuận cao.

-Ở hầu hết các ngành tiểu thủ công nghiệp hiện có đầu tư vốn và thiết bị nói chung còn thấp, kỹ thuật sản xuất chủ yếu là thủ công.

-Hệ thống quản lý nghề và làng nghề ở nông thôn từ cấp Bộ xuống chưa có sự thống nhất theo ngành dọc. Rõ ràng sự không đồng bộ này sẽ gây nên nhiều khó khăn trong việc triển khai, thực hiện các chương trình hỗ trợ phát triển làng nghề. Sự giúp đỡ của Nhà nước bằng những giải pháp hiện có chưa mang lại hiểu quả mong muốn. Sự chỉ đạo của các cấp quản lý còn nhiều ách tắc