Đánh giá hiệu quả của chính sách quản lý nhập cư tại TP.HCM

1. Về phía người nhập cư

Người nhập cư đến từ rất nhiều vùng, quốc gia trên thế giới với nhiều nền văn hóa khác nhau, đã làm cho TPHCM vốn sôi động ngày càng sôi động hơn. Thế nhưng, bên cạnh những mặt tích cực đó thì vẫn tồn tại những bất cập mà chính những chính sách quản lý chưa chặt chẽ, chế tài chưa đủ sức răn đe của chính quyền và sự quản lý lỏng lẽo đã gây nên nhiều điều bất cập cho cuộc sống của dân nhập cư cũng như cuộc sống cả thành phố. Là thành phố tập trung người nhập cư đông nhất nước, TP.HCM gặp khá nhiều khó khăn trong công tác quản lý cư trú. Đội ngũ chính quyền cũng đã tham gia công tác một cách có tổ chức, đã phần nào giải quyết các vấn đề bức xúc của người dân. Nhưng chưa triệt để, những biện pháp tình huống không giải quyết được các khó khăn lâu dài của dân nhập cư. Chúng ta sẽ cùng nhau đánh giá tính hiệu quả trong chính sách quản lý dân nhập cư của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

1.1Thuận lợi

            –           TP.HCM được xem là một thị trường lao động màu mỡ, miền đất hứa của rất nhiều người dân các tỉnh thành khác. Sự chuyển dịch lao động từ các tỉnh lẻ vào TP.HCM đã tạo cơ hội điều kiện cho người nhập cư có cơ hội tìm kiếm việc làm với đa dạng các ngành nghề, nguồn thu nhập cao hơn so với quê hương họ. Điều này đã tạo ra một sức bật lớn trong việc giảm sức ép thiếu việc làm, thất nghiệp, tình trạng nghèo đói ở nơi mà họ đã ra đi. Chính sự phát triển kinh tế, thị trường rộng lớn, dân số đông cộng với sự quản lý thả lỏng; Một bộ phận dân nhập cư là những người buôn bán hàng rong, lao động chân tay…có cơ hội làm ăn, sinh sống, tạo lập một cuộc sống cùng với gia đình. Bên cạnh đó, lực lượng lao động tri thức và sinh viên có nhiều cơ hội phát triển. Sự phát triển về kinh tế, cơ sở hạ tầng, giáo dục…giúp những đối tượng nhập cư này có một công việc ổn định, phù hợp với năng lực và quan trọng là họ có thể định hướng cuộc sống lâu dài tại thành phố Hồ Chí Minh.

–           Với chính sách nhập cư hiện nay của Thành phố, dân nhập cư có thể mơ về một công việc ổn định, mức thu nhập cao, góp phần cải thiện cuộc sống cho bản thân, cho gia đình, và đặc biệt giấc mơ thoát nghèo là điều hoàn toàn mà họ sẽ làm được. Bên cạnh những lợi ích đó, việc sống và làm việc ở thành phố, dân nhập cư có cơ hội được sống trong một đô thị có chất lượng sống cao, cập nhật thông tin đa dạng, liên tục, được cung ứng đầy đủ các dịch vụ về y tế, giáo dục, giải trí….

–           Đối với sinh viên tỉnh lẻ, việc rời quê vào TP.HCM để học tập sẽ có rất nhiều cơ hội cho tương lai của bản thân. Với một môi trường giáo dục đa dạng, chất lượng như TP.HCM, sinh viên tỉnh lẻ sẽ có rất nhiều cơ hội trong việc lựa chọn ngành nghề, trường học. Đồng thời, lĩnh hội và bổ sung các kỹ năng cần thiết về tin học, tiếng anh, kỹ năng mềm trong một môi trường kinh tế-xã hội năng động như TP.HCM. Với một thị trường lao động màu mỡ nơi đây, sinh viên tỉnh thành sẽ rất thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm trong các công ty, Doanh nghiệp, hơn thế nữa là các công ty nước ngoài, đa quốc gia với thu nhập cao.

1.2 Bất cập

 -  Về nhà ở: Gần 40% những người nhập cư đều gặp phải vấn đề về nhà ở sau khi di cư. Gần 90 % người nhập cư diện KT4 phải sống trong nhà trọ và con số này ngày càng có xu hướng tăng. Từ nhu cầu bức xúc về nơi ở của dân nhập cư, học sinh, sinh viên, một số ít người có hộ khẩu thường trú tại thành phố nhưng khó khăn về nhà ở… dẫn đến sự tăng vọt về số lượng các cơ sở lưu trú bình dân. Thành phố hiện có khoảng 1,2 triệu người đang thuê nhà tại hơn 93.000 hộ kinh doanh phòng trọ, nhà ngăn phòng cho thuê. Trong đó, gần 90% số người thuê nhà trọ là dân nhập cư đến từ nhiều tỉnh, thành khác. Do dân số đông cộng với giá đất ở thành phố quá cao khiến họ khó có thể có một chỗ ở tốt và ổn định để “an cư lập nghiệp”, chất lượng cuộc sống chưa đảm bảo.

  –  Vấn đề thu nhập, việc làm: Thất nghiệp đang là một vấn đề bức xúc và đối với dân nhập cư cũng không là ngoại lệ. Nhiều dân nhập cư có học vấn vẫn phải chịu tình trạng thất nghiệp phải sống bằng những công việc ko liên quan ngành, hay lao động phổ thông. Do đó, thu nhập không cao, đời sống thiếu thốn, chất lượng cuộc sống không ổn định và dẫn đến  một loạt các hệ quả xấu như tệ nạn, cướp giật, trị an,…

– Sự phân biệt đối xử đối với những người nhập cư vào thành phố.

+ Hầu như các quy định như tuyển sinh, đánh giá, hỗ trợ vay vốn… đều dựa trên hộ khẩu. Học sinh có hộ khẩu thường trú thì dễ dàng học trường công, không có là rất khó khăn. Tại TPHCM, số dân di cư chiếm 30%, song tỷ lệ học sinh là con em họ chỉ 10%, tức là số đối tượng hưởng thụ quyền giáo dục chỉ bằng 1/3 so với dân địa phương, ấy thế mà họ còn bị phân biệt đối xử và thu phí trái tuyến. Con em của những người nhập cư do không có hộ khẩu nên không được học tập tại những trường công lập, mà phải theo học ở những trường bán công, tư thục với chi phí cao.

+ Giá điện, giá nước cũng có sự phân biệt rõ ràng. Ở TP.HCM, giá nước người dân di cư phải trả cao hơn gần chục lần giá định mức cho người thường trú. Về vấn đề này, công ty cấp nước cho rằng ko đủ nước sạch để cung cấp cho dân thành phố, nếu còn phải cáng đáng thêm phần của dân nhập cư thì công ty sẽ bị lỗ doanh thu và thiệt hại cho nhà nước.

+ Phân biệt đối xử trong việc sử dụng các dịch vụ công: Những chương trình y tế, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thường ít khi đề cập đến người nhập cư, thậm chí bỏ qua người lao động nhập cư do vị thế không chính thức của họ về mặt pháp lý ở nơi nhập cư. Có đến 94% số lao động di cư trong các doanh nghiệp nhỏ được khảo sát chưa bao giờ đi khám bệnh hoặc được kiểm tra sức khoẻ ở nơi làm việc. Hầu như tất cả người trả lời (99%) đều không có bảo hiểm xã hội hoặc bảo hiểm tai nạn tại nơi làm việc. Khoảng 72% lao động di cư không có phúc lợi gì, dù dưới bất kỳ hình thức nào. Kể từ ngày 1/7/2012, TP ngừng cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi không có hộ khẩu TP, đối với những trẻ tạm trú đã được cấp thẻ BHYT các cơ quan chức năng phải tiến hành rà soát và thu hồi. Đây là quy định gây nhiều tranh cãi. Theo đó, trẻ em dưới 6 tuối muốn làm BHYT phải về địa phương để làm thủ tục, gây nhiều khó khăn cho người dân nhập cư. Chưa kể, khi khám BHYT ở TP, người dân buộc phải về địa phương để thanh toán chi phí khám chữa bệnh, trong khi số tiền được thanh toán này chẳng đáng là bao so với chi phí, thời gian công sức bỏ ra, rất phiền hà, tốn công sức.

+ Quy định mới về nhập hộ khẩu gây nhiều bất cập cho người dân nhập cư: Các điều kiện để nhập hộ khẩu TP rất khó khăn và gần như ko thể thực hiện được, người dân nhập cư mãi phải chịu sự phân biệt, bất công.

2. Hiệu quả quản lý của chính quyền thành phố

2.1 Tích cực:

–           Với sự ra đời của Luật cư trú  ngày 1/7/2007, đã góp phần giúp cho chính quyền TP.HCM nói riêng và chính quyền các tỉnh thành trong cả nước nói chung quản lý có hiệu quả hơn vấn đề dân số và đặc biệt là dân nhập cư, mở ra điều kiện thoáng hơn cho người dân về đăng ký hộ khẩu vào các đô thị lớn. Đặc biệt, vấn đề quản lý và cấp giấy phép tạm trú cho người dân được tiến hành rất nhanh chóng, thủ tục đơn giản.

2.2 Hạn chế:

–           Hệ thống quản lý trong quá trình thực hiện chính sách nhập cư vẫn có nhiều vướng mắc, chồng chéo, không thống nhất về điều kiện cấp sổ hộ khẩu thành phố, mặc dù Luật cư trú đã quy định rõ. Đơn cử, điều kiện để đăng kí hộ khẩu thường trú chỉ còn yêu cầu về chỗ ở hợp pháp, bỏ đi điều kiện về công việc (theo điều 20 luật cư trú), nhưng nhiều người có chỗ ở hợp pháp nhưng lại chưa thuộc diện cấp sổ; hay tình trạng thêm điều kiện về diện tích nhà ở, tăng số năm tạm trú diễn ra ở một bộ phận chính quyền quận huyện.

–           Luật cư trú ra đời đã tồn tại một số bất cập đã dẫn đến việc quản lý gặp nhiều vướng mắc, chồng chéo, và khó khăn tiêu biểu là hai vấn đề sau:

            Thứ nhất, Luật Cư trú cho đến nay đã qua một số lần sửa đổi, nhưng thực tế vẫn chưa khắc phục được những khuyết điểm đã dẫn tới thực trạng trên. Đơn cử, trong quy định về điều kiện đăng ký thường trú tại các thành phố trực thuộc trung ương, Luật Cư trú quy định: “Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc trung ương và tạm trú liên tục tại chỗ ở đó từ một năm trở lên” thì mới được đăng ký thường trú (Khoản 1, Điều 20). Theo ông Huỳnh Văn Chính, Chủ tịch UBND quận Bình Tân, hiện nay nhiều người dân, nhất là những gia đình khó khăn phải ở trọ nhiều năm, làm ăn tích cóp mới mua được một căn nhà đứng tên mình sở hữu. “Với quy định của luật hiện hành, không lẽ họ phải tiếp tục “tạm trú” trong căn nhà của chính mình thêm một năm nữa mới đủ điều kiện đăng ký tạm trú hay sao?”, ông Chính đặt vấn đề.

            Thứ hai, Luật Cư trú hiện hành quy định: người dân không được đăng ký thường trú nhà ở tại khu vực đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền… Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều dự án “treo” trong một thời gian quá lâu lại là nguyên nhân khiến việc đăng ký thường trú của người dân gặp khó khăn. Trong khi đó, dự án “treo” thì lại không phải lỗi của dân.

–           Quản lý người nhập cư từ nước ngoài vào Việt Nam vẫn chưa hiệu quả

Nghị định 34/CP của chính phủ quy định việc tuyển dụng và quản lý nước ngoài làm việc tại Việt Nam có hiệu lực thi hành từ ngày 12/04/2008 (ngày 10/06/2008, Bộ LĐ-TB&XH đã có thông tư 08 hướng dẫn thực hiện). Tuy nhiên đến nay trong khi lao động nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng thì công tác quản lý vẫn không theo kịp.

Những quy định của Nhà nước đưa ra vẫn chưa sát thực tế: Nghị định quy định trước khi tuyển dụng lao động nước ngoài, doanh nghiệp phải thực hiện đăng báo tuyển dụng. Quy định này chỉ mang tính hình thức và không chứng minh được việc tuyển người nước ngoài là do không có lao động Việt Nam thay thế theo quy định của luật pháp VN. Quy định về cấp lại giấy phép lao động chỉ áp dụng đối với giấy phép bị hỏng hoặc mất nhưng không quy định hướng xử lý đối với trường hợp có sự thay đổi về mặt nội dung trên giấy phép như số hộ chiếu, chức danh công việc, tên doanh nghiệp …. Đối với người lao động vào VN chào bán dịch vụ cũng chưa có quy định cụ thể là trong bao lâu, gây khó khăn cho việc quản lý, kiểm tra, giám sát. Rắc rối nhất là quy định về cấp giấy phép lao động đối với chức danh trưởng văn phòng đại diện tổng giám đốc là người nước ngoài. Nhiều người nước ngoài trước đây thực hiện hợp đồng lao động, sau quá trình làm việc được bổ nhiệm lên chức trưởng văn phòng đại diện. Ở thời điểm bổ nhiệm người này được miễn cấp giấy phép lao động, nhưng khi nghị định 34/CP có hiệu lực, họ phải xin giấy phép lao động và một trong những loại giấy tờ phải có khi xin phép là thư bổ nhiệm với nội dung ghi rõ “ phải có thời gian công tác tại công ty mẹ trên 12 tháng”…

Tại TPHCM, với vai trò quản lý nhà nước, Sở LĐ- TB&XH TPHCM đã tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra tình hình sử dụng lao động nước ngoài trên địa bàn đồng thời áp dụng nhiều biện pháp như nhắc nhở, xử phạt hành chính. Tuy nhiên các biện pháp chế tài về kinh tế chưa đủ sức răn đe. Nhiều DN vi phạm sẵn sàng nộp phạt và tiếp tục duy trì quan hệ lao động với người nước ngoài trái pháp luật. Điều đáng nói là theo quy định tại Nghị định 34/CP, người nước ngoài sau 6 tháng làm việc tại Việt Nam mà không có GPLĐ thì Sở LĐ-TB&XH các tỉnh, thành đề nghị Bộ Công an ra quyết định trục xuất khỏi Việt Nam trước nay chưa có tiền lệ. Những bất cập của cơ chế cũng như quản lý lỏng lẻo chính là nguyên nhân của tình trạng LĐPT nước ngoài ào ạt vào Việt Nam không kiểm soát được.

–                     Xuất hiện tình trạng thêm điều kiện về diện tích nhà ở, hay việc chuyển đổi chỗ ở mới, phải tính thời hạn tạm trú lại từ đầu gây khó khăn cho cả người dân và chính quyền.