Đánh giá hiệu quả quản lý đô thị tại TPHCM

1.            Những điểm mạnh của quản lý đô thị tại TPHCM

–      Chính quyền đô thị quan tâm đầu tư phát triển kiến trúc- cảnh quan đô thị. Đi đôi với việc tạo dựng ngày càng nhiều công trình kiến trúc cao tầng, các khu đô thị mới hiện đại, đồng bộ thì chính quyền địa phương thành phố cũng thực hiện tốt công tác cải tạo, chỉnh trang, bảo tồn các giá trị di sản kiến trúc đô thị được coi trọng, góp phần duy trì và tạo dựng bản sắc của đô thị.

–      Đưa ra mô hình đầu tư phát triển các khu đô thị mới đồng bộ tại nhiều địa phương. Như quận 7, quận 9, Bình Thạnh,…

–      Chủ trương đầu tư xây dựng, cải tạo và phát triển khá nhanh hệ thống công trình hạ tầng đô thị như hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước…, tạo bộ khung cơ bản để các đô thị phát triển. Tập trung nguồn vốn ODA để đầu tư xây dựng nâng cấp hạ tầng kỹ thuật đô thị như dự án tàu điện ngầm, các tuyến giao thông huyết mạch…

–      Mặc dù chưa phủ kín quy hoạch ở những khu vực cần thiết, nhưng về cơ bản định hướng phát triển đô thị TPHCM đã được xác định rất rõ trong đồ án điều chỉnh quy hoạch xây dựng chung TPHCM đến 2025 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

2.            Những yếu kém trong quản lý đô thi tại TPHCM

–      Khung pháp luật để quản lý

Xây dựng còn thiếu, chưa đồng bộ. Việc nghiên cứu xây dựng hệ thống quy trình, quy phạm tiêu chuẩn chưa được quan tâm một cách đúng mức, nhiều quy định đến nay đã lạc hậu, không còn phù hợp

–      Hệ thống, chính sách quản lý đô thị

Sự  khác biệt về hệ thống quản lý mà các nước đã thực hiện từ rất lâu thì ở Việt Nam còn khá mới mẻ, còn đang bàn thảo. Nên các chương trình hợp tác như nghiên cứu, huấn luyện, đào tạo, chuyển giao công nghệ, thực hiện các dự án, Việt Nam thường bị đứng một mình một bên, nếu hợp tác cũng khó triển khai

Ví dụ: có những vấn đề sự không tương hợp trong hệ thống quản lý đô thị giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á gây khó cho các nhà nghiên cứu, giáo dục, ngoại giao và làm cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài lúng túng khi tiến hành các thủ tục ở Việt Nam.

Thực tế nhiều nhà đầu tư thấy nản lòng vì sự không nhất quán trong chính sách, quy trình thủ tục rườm rà. Có nhà đầu tư mất 10 năm vẫn chưa có được giấy phép xây dựng, có khi chạy gần xong, đến cuối lại nảy sinh một vấn đề nào đó không có trong danh mục xét duyệt, phải làm lại từ đầu. Do vậy nhiều nhà đầu tư bỏ cuộc, chuyển sang các nước khác.

Bản thân hệ thống công quyền thành phố cũng gặp rất nhiều khó khăn khi điều hành xã hội, nhất là phải đối phó với những vấn nạn phát sinh. Do không có quyền độc lập trong nhiều lĩnh vực như quản lý đất đai, quy hoạch không gian, chính sách thuế nên hầu hết đối sách đưa ra với các vấn nạn như giao thông, quy hoạch, ngập nước, tệ nạn xã hội, nhà ở, tài chính, năng lượng đều mang tính đối phó bị động, chậm, không triệt để và hiệu quả thấp.

Chẳng hạn, đối với các vấn đề như thị trường bất động sản, tín dụng ngân hàng, rõ ràng lãnh đạo thành phố nhận thức được vấn đề rất sớm và có thể giải quyết trong tầm tay, nhưng do không được giao quyền nên “lực bất tòng tâm”, nhiều chuyện khi được phép thì cơ hội đã trôi qua.

–          Nguồn nhân lực quản lý đô thị:

TPHCM đang thiếu nguồn nhân lực quản lý chuyên nghiệp và có năng lực. Đa phần cán bộ quản lý từ cấp phường đến cấp quận không được đào tạo một cách bài bản, căn cơ về nghiệp vụ chuyên môn như quản lý hành chính, môi trường, xây dựng cơ bản… từ các trường chính quy nên rất lúng túng mỗi khi có sự thay đổi về chính sách, quan điểm điều hành, xử lý các vấn đề mới phát sinh. Ngoài ra, hiện tại mới chỉ có một số ít các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu có xây dựng các chương trình đào tạo về quản lý đô thị. Các chương trình này vẫn chỉ tập trung vào một phạm trù nhỏ trong phát triển đô thị mà thiếu cái nhìn tổng thể để xây dựng các kỹ năng cần thiết để quản lý, phát triển đô thị. Nội dung đào tạo thường tập trung về kỹ năng quản lý các vấn đề hiện trạng đô thị, chưa đề cập đến nội dung giúp phát triển các kỹ năng xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển tổng thể đô thị toàn quốc và từng đô thị riêng biệt. Chưa có những chương trình đào tạo tổng quan cho các cán bộ lãnh đạo đô thị để nâng cao sự quan tâm và nhận thức về quản lý phát triển đô thị cũng như các chương trình chuyên sâu để nâng cao chất lượng và trình độ cho các cán bộ chuyên môn phát triển đô thị.

–           Quản lý xã hội và dân cư đô thị:

Việc quy hoạch các khu đô thị mới ra ngoại thành, chỉnh trang lại các khu đô thị cũ trong nội thành đẩy mạnh chương trình phát triển nhà ở mới đang trong bước đầu thực hiện, còn gặp nhiều khó khăn mà chính quyền đô thị chưa thể giải quyết.

Cụ thể: Bản điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP Hồ Chí Minh đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu năm 2010, đã xác định rất rõ mô hình phát triển của TP là tập trung và đa cực, trong đó, trung tâm là khu vực nội thành hiện hữu với bán kính 15km và 4 cực phát triển theo hướng Đông, Nam, Tây – Bắc, Tây – Nam. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, quận 1 và quận 3 tập trung nhiều trung tâm dịch vụ, cơ quan hành chính, trong khi khu vực bên ngoài thì trống vắng. Đa phần người dân vẫn muốn cư ngụ gần trung tâm để được hưởng các dịch vụ xã hội tốt nhất, di chuyển bằng phương tiện cá nhân thuận tiện. Vì vậy, mục tiêu phát triển đô thị mạnh ở ngoại thành là rất khó.

–          Quản lý cơ sở hạ tầng:

Các cấp, ngành thành phố chưa có những biện pháp quản lý tập trung để hạ tầng có thể góp phần vào sự phát triển của TP

Ví dụ: Quy hoạch xây dựng, TP có 2.000km2, nhưng hiện nay phân bổ dân cư không đều, tập trung vào khu trung tâm quá lớn, gây tắc đường, ô nhiễm môi trường và nhiều vấn đề xã hội phát sinh ở khu trung tâm TP, làm ảnh hưởng sự phát triển chung của thành phố mà chủ yếu là kinh tế và một số vấn đề xã hội.

–          Quản lý kém công trình ngầm đô thị

Hiện nay thành phố chưa có sơ đồ, bản đồ công trình ngầm hoàn chỉnh để phục vụ cho việc quy hoạch, quản lý và phát triển không gian ngầm. Chưa có định chế về quy hoạch, thiết kế, thi công, xử lý khi có xung đột các công trình ngầm và biện pháp chế tài xử phạt khi các nhà thầu làm ảnh hưởng đến các công trình ngầm lân cận hiện hữu. Không gian ngầm của TP.HCM được phân công cho nhiều sở chuyên ngành quy hoạch, quản lý như Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải. Các công trình ngầm lại có quá nhiều đầu mối quản lý từ Trung ương đến cấp quận, huyện nên khi xảy ra sự cố nhiều nơi không xác định được đơn vị chịu trách nhiệm chính quản lý công trình ngầm. Cũng vì vậy khi thiết kế công trình ngầm đơn vị thiết kế khó có đầy đủ thông tin hoặc thông tin không chính xác để tránh xung đột trong quá trình thi công. Khi thi công nếu có xung đột với các công trình ngầm hiện hữu, nhà thầu lại phải ngưng thi công chờ đơn vị quản lý giải quyết, thời gian chờ có khi kéo dài đến 6 tháng làm lãng phí thời gian, chi phí, ảnh hưởng đến chất lượng công trình ngầm cả cũ và mới.

–          Quản lý đất đai đô thị:

Về quản lý và sử dụng đất đô thị theo quy hoạch, chưa kiểm soát được tình hình đất đai, các dự án đầu tư trên địa bàn TP. Như các dự án phát triển nhà ở thiếu hài hòa về không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, chưa đồng bộ về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch được duyệt. Ngoài ra còn xuất hiện tình trạng “quy hoạch chạy theo dự án”, nguyên nhân chủ yếu vì trong thời kỳ phát triển thị trường bất động sản và vì mục tiêu tăng trưởng nên các nhà đầu tư đề xuất điều chỉnh quy hoạch (chuyển chức năng khác thành chức năng nhà ở, tăng tầng cao, hệ số sử dụng đất), tác động xấu đến hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo quy hoạch được duyệt, gây khó khăn cho công tác quản lý quy hoạch.