Đánh giá lại cơ cấu nguồn vốn định kỳ hàng năm

Những căn cứ để xây dựng cơ cấu nguồn vốn mục tiêu dựa trên sử dụng những kết quả đầu vào từ lãi suất, phần bù rủi ro cũng như thuế suất thuế thu nhập DN đều mang tính chất thời điểm. Bởi vậy, khi các nhân tố này thay đổi thì yêu cầu đối với các DN cần phải xem xét lại cơ cơ cấu nguồn vốn. Việc xem xét lại cơ cấu nguồn vốn hàng năm sẽ giúp DN xác nhận xem cơ cấu nguồn vốn mục tiêu hiện tại còn phù hợp về biên độ cho phép hay không và có cần thiết phải điều chỉnh lại hay không. Bởi vậy, các DN cần thiết phải đánh giá lại cơ cấu nguồn vốn định kỳ đặc biệt khi có nhưng thay đổi quan trọng sau:

Khi có sự thay đổi về chính sách thuế thu nhập DN: Lợi ích lớn nhất của việc sử dụng nợ vay so với vốn cổ phần là khoản lợi thuế đem lại. Lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế đã cho rằng việc sử dụng nợ vay mang lại cho các DN lợi thế hơn so với sử dụng vốn cổ phần từ “tấm lá chắn thuế” từ nợ Điều này xuất phát từ việc chi phí sử dụng nợ vay được coi là khoản chi phí hợp lý để loại trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế thu nhập DN. Do đó, khi có sự thay đổi về thuế suất thuế thu nhập DN thì các DN cần phải có sự đánh giá lại về cơ cấu nguồn vốn mục tiêu.

Khi có sự thay đổi trong chính sách đầu tư: Nếu chính sách đầu tư của DN thay đổi theo hướng tập trung nguồn lực vào một lĩnh vực rủi ro hơn sẽ dẫn đến rủi ro kinh doanh tăng cao và từ đó cần hạn chế sử dụng nợ vay hơn so với trước đây. Nếu chính sách đầu tư chuyển hướng vào đầu tư vào lĩnh vực rủi ro thấp hơn thì DN nên gia tăng việc sử dụng nợ vay nhằm giảm thiểu chi phí sử dụng vốn, gia tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu.

Khi có sự thay đổi trong hiệu quả hoạt động kinh doanh: Nếu như các khoản đầu tư có khả năng sinh lời tốt thì việc sử dụng nợ vay sẽ làm gia tăng thêm lợi ích cho cổ đông và ngược lại, nếu khả năng sinh lời thấp thì việc sử dụng nợ vay sẽ không những không tạo ra lợi ích mà còn có thể làm tổn hại lợi ích của cổ đông.

Khi có sự thay đổi về chính sách tiền tệ và chính sách tín dụng của ngân hàng. Khi các chính sách tiền tệ và chính sách tín dụng có sự điều chỉnh làm cho xu hướng lãi suất gia tăng thì chính sách tài trợ vốn của các DN cũng cần phải có sự điều chỉnh lại cho phù hợp.

Khi có sự điều chỉnh về chính sách cổ tức trong dài hạn: Chính sách cổ tức sẽ chi phối đến số lợi nhuận để lại tái đầu tư, do đó khi DN thay đổi chính sách cổ tức sẽ dẫn đến khả năng nguồn tài trợ bên trong sẽ bị thay đổi. Khi đó, DN sẽ phải tính đến ảnh hưởng của chính sách cổ tức tới nguồn lợi nhuận giữ lại tái đầu tư. Các DN có chính sách cổ tức chi trả cao đối với các cổ đông sẽ làm cho phần lợi nhuận giữ lại bị giảm sút và làm cho mức độ độc lập trong việc sử dụng nợ vay bị giảm sút; ngược lại một DN áp dụng chính sách chi trả cố tức ổn định ở mức thấp cho cổ đông sẽ làm cho phần lợi nhuận giữ lại gia tăng và nâng cao mức độ độc lập cho DN trong việc sử dụng nợ Tuy nhiên, việc duy trì chính sách cổ tức ổn định ở mức thấp trong trường hợp DN làm ăn hiệu quả sẽ làm cho chi phí sử dụng vốn của DN gia tăng.