Đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc

Đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc
Đánh giá bài viết

 

Cách đây 30 năm, tháng 12/1978, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 3 Khóa 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định chuyển trọng tâm công tác sang xây dựng hiện đại hóa đất nước Trung Hoa. Ở thời điểm đó, giữa các quốc gia thuộc hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa thế giới, Trung Quốc là nước đi đầu trong việc tháo gỡ cơ chế cũ, bứt phá thận trọng nhưng sáng tạo và mạnh bạo nhằm xây dựng một nền kinh tế mới. Ba thập kỷ qua, hai quá trình cải cách và mở cửa hợp nhất trong một chiến lược chung hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đến nay, Trung Quốc đã đạt bước tiến vĩ đại trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội màu sắc Trung Quốc và phục hưng dân tộc Trung Hoa.

1  Thành tựu của Trung Quốc qua những con số

Kinh tế:

Từ 1978-2007, tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP Trung Quốc là 9,8%, cao hơn 3% so với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của thế giới trong cùng thời kỳ. GDP của Trung Quốc năm 2007 đạt 3.280 tỷ nhân dân tệ (481 tỷ USD), tương đương 23,7% GDP của Mỹ, 74,9% GDP của Nhật Bản và 99,5% GDP của Đức. Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc đạt 2.360 USD. Theo bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB), Trung Quốc từ nước có mức thu nhập thấp được đưa vào danh sách những nước có thu nhập thấp trung bình. Cơ quan tình báo quốc gia Mỹ đã dự đoán đến năm 2025, Trung Quốc có khả năng vượt Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Thậm chí, nhiều nhà phân tích trong nước còn cho rằng đến năm 2038, Trung Quốc có thể sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Ngoại thương:

Năm 1978, tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc với bên ngoài là 20,6 tỷ USD và thâm hụt thương mại là 1,1 tỷ USD. Năm 2007, kim ngạch thương mại đã tăng lên 105 lần, đến 2,17 nghìn tỷ USD, và thâm hụt đã biến thành khoản thặng dư khổng lồ là 262 tỷ USD. Năm 1978, có 9 người tốt nghiệp đại học có chứng chỉ cao học. Năm 2007, con số này đã tăng lên 311.839.

Dân số:

Khi cải cách bắt đầu, Trung Quốc có số dân lớn nhất thế giới, 963 triệu người. Hiện dù vẫn là một nước đông dân nhất thế giới (1,32 tỷ năm 2007), nhưng có khả năng trong vài thập kỷ nữa Ấn Độ sẽ qua mặt. Chính sách một con đã giúp nước này kiểm soát được tỷ lệ tăng dân số ở mức 0,5% hiện nay từ 1,2% năm 1978.

Thu nhập:

Người dân ở cả thành thị và nông thôn đều được hưởng lợi từ cải cách. Năm 1978, thu nhập trung bình hàng năm của mỗi hộ dân thành phố là 343,4 Nhân dân tệ (khoảng 45 USD), đến năm 2007 đã gấp 40 lần – lên 13.786 nhân dân tệ (khoảng 1.810 USD). Đối với hộ nông thôn, mức tăng là 31 lần, từ 133,6 Nhân dân tệ lên 4.140 Nhân dân tệ.

 Tuổi thọ:

Năm 1981, tuổi thọ trung bình của nữ giới Trung Quốc là 69,3 và đến năm 2000 là 73,3. Với nam giới, con số này là 66,3 trong năm 1981 và 69,6 năm 2000.

Top of FormTăng khối lượng xuất khẩu

Năm 2007, kim ngạch xuất nhập khẩu Trung Quốc đạt 2.170 tỷ USD, tăng 107 lần so với mức 20,6 tỷ USD của năm 1978. Từ vị trí 32 trong buôn bán trên thế giới kể từ khi bắt đầu thực hiện chính sách cải cách mở cửa, đến năm 2004, Trung Quốc đã vươn lên đứng thứ 3 thế giới. Trong giai đoạn từ 1978-1993, Trung Quốc luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, kể từ năm 1994, Trung Quốc bắt đầu có thặng dư trong ngoại thương với mức tăng thặng dư nhanh giúp Trung Quốc trở thành quốc gia có lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trước năm 1992, Trung Quốc hầu như phải mượn tiền của nước ngoài, đặc biệt là thông qua các khoản vay. Năm 1992, lần đầu tiên lượng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc vượt số tiền vay nước ngoài. Kể từ đó, FDI trở thành kênh quan trọng nhất để Trung Quốc thu hút tư bản nước ngoài.

Năm 1983, FDI vào Trung Quốc chỉ đạt 916 triệu USD nhưng đến năm 2007, con số này đã đạt 74,8 tỷ USD, tăng 81 lần. Tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc đã thu hút được trên 770 tỷ USD từ FDI với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 20,1%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP. Kể từ năm 1993, Trung Quốc trở thành quốc gia hấp dẫn FDI nhất trong số các quốc gia đang phát triển. Năm 2001, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từng bước mở cửa thị trường tài chính của mình và hoàn hiện các quy định, văn bản luật pháp có liên quan.

Thay đổi thành phần kinh tế nhà nước

Số liệu của NBS cho thấy, năm 1978, xí nghiệp quốc doanh chiếm 77,6% tổng sản lượng công nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, đến năm 2007, tỷ lệ này chỉ còn chiếm 29,5%. Mặc dù tỷ lệ giảm, nhưng kinh tế quốc doanh vẫn là yếu tố quan trọng trong kinh tế Trung Quốc.. Trước khi cải cách mở cửa, Trung Quốc phải gánh chịu sự thiếu hụt nghiêm trọng về hàng tiêu dùng và dịch vụ. Người dân chỉ có thể mua được lương thực bằng tem phiếu do chính phủ cấp. Sau năm 1978, khả năng cung cấp hàng tiêu dùng của Trung Quốc tăng nhanh và có thể đáp ứng nhu cầu của người dân.

Năm 2007, sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt 501,6 triệu tấn, tăng 64,6% so với sản lượng lương thực của năm 1978. Giá trị gia tăng công nghiệp năm 2007 vượt mức 10.000 tỷ nhân dân tệ (1.470 tỷ USD), tăng 23 lần so với năm 1978. Năm 2007, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng sản phẩm nông nghiệp như ngũ cốc, thịt và bông. Các sản phẩm công nghiệp như thép, than đá, xi măng và phân hóa học của Trung Quốc cũng đạt sản lượng hàng đầu thế giớiBottom of Form

Cường quốc vũ trụ sau Nga và Mỹ 

Phóng thành công tàu vũ trụ Thần Châu 7 ngày 28/9/2008 và nhà du hành Trác Chí Cương, tay cầm lá cờ Trung Quốc, bước ra ngoài không gian trong 20 phút. Sự kiện này đã đưa Trung Quốc trở thành quốc gia thứ 3 trên thế giới thực hiện thành công cuộc đi bộ ngoài không gian

Quan hệ đối ngoại:

Trung Quốc chú trọng đa phương hóa quan hệ chính trị, kinh tế đối ngoại, với 190 quốc gia và nền kinh tế đầu tư buôn bán tại Đại lục. 480 trong số 500 công ty xuyên quốc gia mạnh nhất thế giới hoạt động ở nước này.