Đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

1. Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện hành

_2007: Cơ hội cùng thách thức không nhỏ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO.

_2008: Lạm phát lên đến 28% do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

   1.1. Nhận diện và đánh giá

 1.1.1 GDP

Trong điều kiện kinh tế toàn cầu hậu khủng hoảng phục hồi chậm, nhưng kinh tế Việt Nam đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá nhanh. GDP quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IV tăng 7,34%. Tính chung cả năm, GDP tăng 6,78%, cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra (6,5%), vẫn thuộc nhóm có mức tăng trưởng khá cao trong khu vực và trên thế giới, trong đó, tất cả các ngành, lĩnh vực đều đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với năm trước. Trong 6,78% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; công nghiệp xây dựng tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm; dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểm phần trăm. Với kết quả này, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1160 USD

 1.1.2 ICOR

-Mặc dù tăng trưởng GDP cao nhưng chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam lại rất thấp. Điều này thể hiện qua hệ số ICOR dự báo lên đến 6.3 lần trong năm 2010, và tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào dòng vốn đầu tư và chi tiêu của khu vực công. Việc tái cơ cấu và nâng cao chất lượng tăng trưởng chưa có nhiều chuyển biến trong năm 2010. Điều này đã gây nên những lo ngại về tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

-Hiệu quả của vốn đầu tư cũng đang giảm thấp đến mức báo động vơi chỉ số ICOR tăng mạnh trong giai đoạn 1991 – 2009. Nếu như trong giai đoạn 1991 – 1995, hệ số ICOR là 3,5 thì đến giai đoạn năm 2007 – 2008, hệ số này là 6,15; năm 2009, hệ số ICOR tăng vọt lên 8; năm 2010, hệ số này giảm xuống còn 6,2; nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với khuyến cáo của WB: đối với một nước đang phát triển, hệ số ICOR ở mức 3 là đầu tư có hiệu quả và nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững. So sánh với các nước trong khu vực, ICOR của Việt Nam gần gấp đôi, có nghĩa là hiệu suất đầu tư chỉ bằng một nửa.

1.1.3 Lạm phát

-Lạm phát cao gây bất ổn kinh tế vĩ mô. Trong năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng tăng 11,75% so với tháng 12/2009, vượt xa chỉ tiêu lạm phát Quốc hội thông qua đầu năm là không quá 7% và mục tiêu Chính phủ điều chỉnh là không quá 8%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 16,18%, với quyền số 39,93%, nhóm này đã đóng góp vào mức tăng chung của chỉ số CPI khoảng 6,46%, hơn một nửa mức tăng CPI của cả năm. Tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt, VLXD, tăng 15,74%, với quyền số 10,01%, nhóm này góp phần làm tăng chỉ số chung khoảng 1,57%. Nhóm giáo dục có mức tăng cao nhất 19,38%, với quyền số không lớn là 5,72%, nhưng nhóm này đã đóng góp mức tăng khoảng 1,1% vào mức tăng chung của chỉ số CPI.

-Nguyên nhân chỉ số CPI tăng mạnh trong năm 2010 là tổng hòa của các nhân tố như thiên tai, giá cả hàng hóa thế giới tăng, tiền đồng bị mất giá, thâm hụt ngân sách kéo dài, nhập siêu cao…, nhưng nguyên nhân sâu xa có thể tìm thấy trong việc lựa chọn thứ tự ưu tiên các mục tiêu phát triển kinh tế. Đối với nhiều nước đang phát triển như Việt Nam thì tăng trưởng vẫn là ưu tiên số một. Do vậy, suốt một thời gian dài, Việt Nam đã chấp nhận lạm phát cao để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế với chính sách tiền tệ và tài khóa về cơ bản là nới lỏng. Thành tựu tăng trưởng kinh tế những năm qua là điều đáng ghi nhận, song lạm phát cao, kéo dài so với nhiều nước trong khu vực là một bất ổn, ảnh hưởng đến tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.

1.1.3 Năng suất lao động

-Những ngành có năng suất lao động tăng cao nhất phải kể đến là ngành khai thác (tăng 17%/năm), ngành điện, khí đốt, nước (tăng 11,1%) nhờ áp dụng nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh và quản lý. Hệ số vốn đầu tư phát triển so với tốc độ tăng GDP đã giảm, chứng tỏ hiệu quả đầu tư đã tăng lên, mặc dù vẫn còn cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ do chi phí lớn. Xét chung lại, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 đạt bình quân 5.13%

-Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng năng suất của công nghiệp chế tạo và chế biến (ngành tiềm năng) chỉ bằng 1% tăng năng suất, thấp hơn cả tốc độ tăng trưởng năng suất của nông-lâm-nghiệp (ngành truyền thống, khó áp dụng công nghệ mới)

=> Thể hiện sự bất ổn

1.1.4 TFP

TFP phản ảnh hiệu quả sử dụng các nguồn lực vào sản xuất, phản ảnh sự thay đổi công nghệ, trình độ lành nghề của công nhân, trình độ quản lý… Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng đầu vào. Điều này là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế. Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ có góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn. Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất. Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Theo thống kê cho thấy giai đoạn 2004 – 2009, TFP khoảng 15,1%. Trong khi đó giai đoạn 2003 – 2008 là 15,53%. Như vậy là đóng góp vào tăng trưởng có giảm. Nếu tính riêng trong ngành công nghiệp tỉ trọng TFP còn thấp hơn nhiều, lao động cũng thấp, trong khi đó vốn lại cao hơn nhiều.

1.1.5 Xuất nhập khẩu

-Tính trong 11 tháng đầu năm tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam và Trung Quốc đã đạt 21.3 tỷ USD, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam đạt 5.4 tỷ USD, tăng 45%, nhập khẩu đạt 15.9 tỷ USD, tăng 22,8%.

-Kim ngạch thương mại với các nước ASEAN đạt 21.5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 8.4 tỷ USD, tăng 18%, nhập khẩu đạt 13.1 tỷ USD, tăng 22%.

-Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU đạt 13.8 tỷ USD, với 8.8 tỷ USD xuất khẩu và 5 tỷ USD nhập khẩu.

-Xuất khẩu sang Hòa Kỳ trong 11 tháng đầu năm 2010 đạt 11.6 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu. Như vậy, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

-Có thể thấy Trung Quốc đang dần trở thành đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Năm 2010, nhập khẩu từ Trung Quốc đã chiếm tới 24% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Các mặt hàng nhập khẩu của Trung Quốc đang cạnh tranh gay gắt với hàng sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, rõ ràng là Việt Nam rất khó có thể tiếp cận được công nghệ nguồn, khi nhập khẩu máy móc thiết bị từ quốc gia này.

1.1.6 Thể chế kinh tế

-Ngày càng hoàn thiện, đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, động lực chung của sự phát triển là đại đoàn kết dân tộc và các động lực kinh tế, chế độ phân phối yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, xã hội, độc lập tự chủ về kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế.

Tuy nhiên vẫn chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế, sự bất cập này thể hiện ở tính chưa đồng bộ. Đó là sự “phân mảnh thể chế_mà cụ thể là 36 tỉnh là 36 nền kinh tế, 22 bộ và 4 cơ quan ngang bộ trở thành những lô-cốt quyền lực”_TS. Vũ Thành Tự Anh.

-Chính sách đôi khi hoặc bất cập hoặc chồng chéo hay cảm tính.

1.1.7 Nợ chính phủ và thâm hụt ngân sách

Thâm hụt ngân sách liên tục cao, nợ công tăng nhanh. Theo Bộ Tài chính, thâm hụt ngân sách năm 2010 dự kiến giảm 0,4 điểm % GDP xuống còn 5,8% GDP (dự toán là 6,2% GDP), vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Do thường xuyên trong tình trạng thâm hụt ngân sách nên nợ công tăng rất nhanh trong những năm vừa qua. Theo Bộ Tài chính, tính đến hết 31/12/2010, dư nợ chính phủ bằng 44,3%, dư nợ quốc gia bằng 42,2% GDP và dư nợ công bằng 56,6% GDP. Mặc dù tỉ lệ nợ công Việt Nam được coi là vẫn nằm trong tầm kiểm soát, nhưng đã trở nên cao hơn hẳn so với tỉ lệ phổ biến 30% – 40% ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi khác. Nếu xét mức nợ công bình quân đầu người bình quân đầu người trong vòng 8 năm (từ 2001 đến 2009), mức nợ công bình quân đầu người đã tăng gần bốn lần, từ 144 USD lên tới 548 USD, tức trung bình hơn 18%/năm, trong khi tốc độ tăng GDP bình quân đầu người của cùng thời kì chỉ là 6%/năm. Nợ công tăng nhanh trong bối cảnh thâm hụt ngân sách cao và kéo dài đã đe dọa tính bền vững của quản lí nợ công và gây áp lực lên lạm phát. Điều này mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản của quản lí nợ là nợ hôm nay được trang trải bằng thặng dư năng suất ngày mai. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đều bị các cơquan xếp hạng tín dụng hạ thấp.

1.1.8 Môi trường kinh doanh

-Bước đầu đổi mới theo nền kinh tế thị trường với 3 khu vực là nhà nước, tư nhân và đầu tư nước ngoài

-Các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn nhưng hoạt động kém hiệu quả, đang nắm giữ 75% giá trị tài sản quốc gia, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, 60% lượng vốn tín dụng ngân hàng trong nước, hơn 70% tổng vốn vay nước ngoài nhưng hiệu quả kinh doanh thấp. Chưa đến 40% doanh nghiệp nhà nước có mức lãi bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại.

-Đóng góp của nhà nước vào ngân sách là 17%; việc làm 24%; GDP 27,8%; sản xuất công nghiệp 20,1%.

1.1.9 Chỉ số phát triển con người 

-Nhờ chú trọng các công tác giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe con người, hạn chế tỷ lệ sinh bằng cách phát động các phong trào kế hoạch hóa gia đình, nên chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể.

-Đời sống kinh tế, sinh hoạt của người dân ngày càng được cải thiện. Đến năm 2008 ở Việt Nam đã có 89,4% xã đã có điện, 94,6% xã có đường trải nhựa, 98,9% xã có trường tiểu học và 99% các xã có trạm y tế. Nhiều mục tiêu đề ra đã đạt được hoặc vượt mức như tỷ lệ chết ở trẻ em dưới 1 tuổi chỉ còn 2,1%, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 25%, tỷ lệ thôn bản có cán bộ y tế cộng đồng đạt 79,8%. Tuổi thọ của người dân (năm 2006) đạt 71,3 tuổi. Phần lớn người dân Việt Nam đã có những tiện nghi tối thiểu cho sinh hoạt hằng ngày như điện, nước sạch, ti vi… Tỷ lệ hộ dân có phương tiện đi lại bằng xe máy, ô-tô và sử dụng các phương tiện sinh hoạt cao cấp như điện thoại di động, máy tính cá nhân,… ngày càng có xu hướng tăng nhanh.

1.2. Nhận xét

ŸMô hình kinh tế với vai trò chủ đạo của Nhà nước, chú trọng khai thác tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu thô hàng hóa cơ bản cũng như công nghệ thấp chiếm đa số, nhập khẩu máy móc thiết bị khoa học công nghệ cao…đã từng bước đưa nền kinh tế Việt Nam chuyển mình hội nhập kinh tế thế giói và khu vực. Nhìn chung, không thể phủ nhận nhũng thành tựu đáng kể ta đạt được từ những cải cách kinh tế trong thời gian qua mà biểu hiện là sự gia tăng của các chỉ số qua các năm. Tuy nhiên, vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề chưa dược giải quyết triệt để dẫn đến những hệ quả tiêu cực: chịu tác động của thị trường thế giói và khu vực dễ dàng bị kéo theo khủng hoảng toàn cầu; lạm phát mức cao tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát; thị trường tài chính, bất động sản giảm sút; doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đối mặt với giá đầu vào, lãi suất cao, tồn kho lớn; đời sống nhân dân nhất là nhân dân nghèo, đối tượng chính sách xã hội, người lao động ở các thành thị thấp; giáo duc, đào tạo, y tế xã hội nhiều bất cập; tệ nạn xã hội, tai nạn, ùn tắc giao thông gây bức xúc; khiếu kiện đông người,đình công nhiều nơi…

ŸĐiều đó cho thấy mô hình kinh tế dươc sử dụng thành công trong những năm qua dường như đã không còn phù hợp khi nền kinh tế đang phát triển trong một hệ thống kinh tế và pháp luật quá quen thuộc, bị bám chặt theo lối cũ (chính sách tài khóa chi phối chính sách tiền tệ, tăng tín dụng phục vụ tăng trưởng…). hệ quả là tốc độ gia tăng của các chỉ số dang ngày một giảm, thâm hụt ngân sách lại tăng cùng với những bất ổn vĩ mô.

ŸVì vậy rất cần một mô hình kinh tế mới phù hợp với hoàn cảnh đất nước đáp ứng được các nhu cầu:

-Xây dựng nền kinh tế vĩ mô ổn định (giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, hiệu quả phân bổ đầu tư cao…)

-Khuyến khích khu vực dân doanh trở thành động lực tăng trưởng thay thế cho khu vực Nhà nước hay phụ thuộc quá vào FDI.

-Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh.

-Thay đổi hệ điều hành sao cho phù hợp với bối cảnh đất nước.