Đánh giá một số thành công đối với phát triển nông nghiệp tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2011 – 2016

* Sản xuất nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao và đều qua các năm

+ Giai đoạn 2011 – 2016 thực hiện Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Hải Dương đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, sản xuất nông nghiệp Hải Dương đạt tốc độ tăng trưởng cao và đều qua các năm, góp phần ổn định đời sống nhân dân trong tỉnh, thúc đẩy tăng trưởng các ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ với tốc độ cao. Quy mô GDP (1994) của tỉnh hiện đứng 4/11 địa phương và giá trị hàng hóa xuất khẩu đứng thứ 5/11 địa phương ở Vùng ĐBSH. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành nông nghiệp (2,7%) đạt với mục tiêu quy hoạch đề ra (2,2%) do có sự đánh giá, xác định đúng về vị trí, vai trò của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội theo hướng CNH – HĐH. Thực hiện đạt và vượt 11/18 chỉ tiêu quy hoạch theo Quyết định 1380/QĐ –UBND ngày 24/4/2008 của UBND tỉnh về Phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Hải Dương đến năm 2015 và định hướng 2020

+ Đối với ngành trồng trọt: Tốc độ tăng trưởng bình quân/ năm về giá trị sản xuất theo giá cố định năm 1994 ngành trồng trọt đạt chỉ tiêu đề ra. Thực hiện đến năm 2016, hầu hết diện tích các loại cây lương thực, thực phẩm không đạt quy hoạch đề ra, nhưng sản lượng cây lương thực và cây thực phẩm đều vượt quy hoạch đề ra (do bố trí mùa vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý trên đất canh tác; các loại sản phẩm cây ăn quả tăng nhanh đã cung cấp khối lượng lớn hàng hóa cho thị trường nội vùng, trong nước và chế biến xuất khẩu; các loại cây ăn quả có giá trị và khả năng hàng hóa lớn như vải, nhãn được trồng nhiều ở Chí Linh và Thanh Hà.) Tổng sản lượng cây ăn quả theo quy hoạch đề ra năm 2016 là 135.000 tấn nhưng thực tế sản lượng cây ăn quả ở tỉnh Hải Dương đến nay đã là 196.042 tấn. Tổng sản lượng cây thực phẩm theo quy hoạch đề ra năm 2016 là 620 tấn thì thực tế là 700.000 tấn.

+ Đối với ngành chăn nuôi: Sản phẩm chăn nuôi giai đoạn 2011 – 2016 liên tục tăng qua các năm. Tổng sản lượng thịt bình quân tăng 4,8%/năm. Tốc độ tăng trường ngành chăn nuôi luôn ở mức cao so với ngành nông nghiệp (tăng bình quân 4,85%/năm). Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng từ 29,9% năm 2011 lên 31,4% năm 2016. Tuy nhiên kết quả thực hiện/quy hoạch giai đoạn 2011 – 2016 không đạt được chỉ tiêu đề ra (2,3% so với 4,3%).

Cơ cấu giống gia súc, gia cầm tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ, linh hoạt theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao năng suất và chất lượng, đảm bảo vệ sinh môi trường chăn nuôi.

Đã hình thành các khu chăn nuôi tập trung, trang trại chăn nuôi tại các huyện Thanh Hà, Cẩm Giàng, Bình Giang, Nam Sách,… với các công nghệ chăn nuôi tiên tiến, giải quyết tốt vệ sinh môi trường trong chăn nuôi. Công tác tiêm phòng, phòng chống dịch bệnh đã được chú trọng, giảm thiểu dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm.

– Nhận thức về sản xuất hàng hóa và thị trường trong nông dân đã được nâng lên một bước

Một bộ phận nông dân đã mạnh dạn đổi mới cơ cấu sản xuất, đầu tƣ vào sản xuất, dịch vụ và đã sáng tạo nhiều mô hình sản xuất đạt giá trị cao. Toàn tỉnh đã có 15,5% diện tích đạt tiêu chuẩn cánh đồng 50 triệu (là tỉnh có diện tích đạt 50 triệu đồng /ha cao nhất trong khu vực Đồng bằng Sông Hồng). Cũng do chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đã hình thành đƣợc các vùng sản xuất hàng hóa như:

  1. Vải thiều (Thanh Hà, Chí Linh). Diện tích 8500 ha, sản lƣợng 25 – 000 tấn.
  2. Dƣa hấu, rau ng n ngày, củ đậu (Kim Thành, Gia Lộc). Diện tích 6000 –
  3. Gạo nếp (Kim Thành, Kim Môn) Diện tích 800 – 1000
  4. Hành tỏi (Nam Sách, Kim Môn) Diện tích 3500
  5. Cá, baba (Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Ninh Giang, Kim Thành).
  6. Cà rốt (Cẩm Giàng). Diện tích 420 ha, sản lƣợng 12 – 13000 tấn.
  7. Hoa, cây cảnh (Gia Lộc, TP Hải Dƣơng),…

Sản xuất từng bước phát triển theo hướng công nghiệp

  1. Toàn tỉnh hiện có trên 6700 hộ nuôi gia cầm theo hƣớng công nghiệp quy mô 100 con trở lên (trong đó có trên 300 hộ nuôi quy mô 1000 con trở lên)
  2. Có 1.200 hộ nuôi lơn quy mô 50 con trở lên.
  3. Có 880 hộ nuôi đặc sản thủy sản (tăng 68,6% so với trƣớc), và 579 trang trại các loại.
  4. Nguyên nhân chủ yếu đạt được kết quả trên là do:

+ Có sự đánh giá, xác định đúng về vị trí, vai trò của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội theo hướng CNH

HĐH. Đã chọn đúng các vấn đề mấu chốt, có tính chiến lược của giai đoạn, xây dựng thành các đề án để tập trung đầu tƣ, chỉ đạo thống nhất có trọng điểm, trọng tâm hướng tới mục tiêu chung. Vì vậy đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét ở một số khâu, lĩnh vực chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, qua đó tạo đòn bẩy tác động đến phát triển chung của ngành.

+ Chính sách huy động và hỗ trợ vốn là giải pháp rất quan trọng đối với thành công của sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong thời gian qua.

+ Công tác khuyến nông đã được nâng lên một bước: mở nhiều lớp tập huấn kỹ thuật rỗng rãi đến nông dân, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức cho nông dân thực hiện. Các chương trình đều đƣợc xây dựng mô hình mẫu, tăng sức thuyết phục và tạo sự tin tưởng để nông dân hăng hái tiếp thu, vận dụng.

+ Công tác đầu tƣ, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất đã được chú trọng đẩy mạnh và thu được nhiều kết quả tích cực. Các cơ quan nghiên cứu khoa học, các chuyên gia và cán bộ kỹ thuật của TW, tỉnh đã triển khai 115 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học giai đoạn 2008 – 2014.

+ Những thành tựu quan trọng của quá trình phát triển các ngành kinh tế khác, nhất là về công nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ tạo môi trường và thị trường thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển.

+ Tinh thần lao động tích cực, cần cù, sáng tạo của các hộ nông dân trong quá trình làm giàu và cải thiện đời sống, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh.